Tóm tắt:

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia công việc linh hoạt hoặc ngắn hạn (gig work) của người học dựa trên mô hình Đẩy - Kéo - Neo giữ (PPM). Dữ liệu được thu thập từ 256 người học tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, các yếu tố đẩy gồm lo ngại về cơ hội nghề nghiệp, điều kiện việc làm và thất nghiệp đều làm tăng ý định tham gia công việc gig. Trong nhóm lực kéo, phát triển kỹ năng có ảnh hưởng tích cực, trong khi tự chủ công việc không có ý nghĩa thống kê. Đối với nhóm neo giữ, tự hiệu quả có ảnh hưởng tích cực, còn rủi ro thu nhập có ảnh hưởng ngược chiều đến ý định tham gia. Kết quả góp phần làm rõ vai trò của các nhóm yếu tố trong mô hình PPM và cung cấp hàm ý cho hoạt động định hướng nghề nghiệp của người học.

Từ khóa: công việc linh hoạt/ngắn hạn, mô hình Đẩy-Kéo-Neo giữ, tự chủ công việc, ý định tham gia

1. Đặt vấn đề

Việc lựa chọn nghề nghiệp của người học đại học không còn giới hạn ở vị trí công việc dài hạn trong tổ chức cấp bậc. Công việc linh hoạt hay ngắn hạn (Gig Job) được định nghĩa thông qua tính chất dự án hoặc nhiệm vụ, thời hạn nhất định và không có vị trí trong cơ cấu việc làm lâu dài của tổ chức (Caza et al., 2022). Nghiên cứu công việc gig cần xét cả lợi ích kỳ vọng và những thách thức mà cá nhân có thể đối diện (Li et al., 2025).  

PPM cung cấp cơ sở để đặt các đánh giá đó trong một mô hình thống nhất dẫn đến ý định của một cá nhân (Wu & Huang, 2024). Sự chuyển dịch từ việc làm truyền thống sang việc làm nền tảng có thể được giải thích bởi sự tương tác của 3 nhóm yếu tố. Quyết định tham gia vào một hình thức lao động hoàn toàn mới không chỉ xuất phát từ bất mãn với công việc hiện tại hay sức hấp dẫn của công việc mới, mà còn phụ thuộc vào những điều kiện có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc chuyển đổi hoàn toàn giữa 2 hình thức việc làm (Fos et al., 2025; Lin et al., 2026).

Từ các phân tích trên, 2 câu hỏi chưa được trả lời thỏa đáng là (1) các lực đẩy và lực kéo ảnh hưởng như thế nào với ý định tham gia công việc linh hoạt/ngắn hạn (gig) và (2) nhóm níu giữ đóng vai trò gì trong mô hình giải thích ý định này.

2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

2.1. Ý định nghề nghiệp

Trong nền kinh tế biến động, ý định nghề nghiệp của người tìm việc chịu ảnh hưởng bởi cách họ nhìn nhận công việc gig như một bước đệm hướng tới việc làm truyền thống hoặc như một lựa chọn nghề nghiệp dài hạn khả thi (Adjaino & Adekunle, 2025).

2.2. Lực đẩy khỏi con đường việc làm truyền thống

Lực đẩy lo ngại cơ hội nghề nghiệp (CO) thể hiện sự lo lắng của người lao động về thăng tiến, trách nhiệm chuyên môn và phát triển nghề nghiệp không như mong đợi (Spurk & ctg, 2022). Khi hình dung con đường làm việc trong tổ chức khó đáp ứng các mục tiêu sự nghiệp, người học có thể xem công việc gig như một lựa chọn để chủ động tích lũy kinh nghiệm (Wu & Huang, 2024). Giả thuyết (GT) đầu tiên:

GT 1 (H1): CO làm tăng ý định tham gia công việc gig.

Người tìm việc trong môi trường truyền thống lo ngại điều kiện việc làm (CC) gắn với mức tăng lương, điều khoản hợp đồng, thời gian làm việc và đãi ngộ (Spurk & ctg, 2022). Theo PPM, lập luận này được củng cố trong bối cảnh kinh tế gig cho thấy, các điều kiện tiêu cực trong việc làm truyền thống có thể đóng vai trò yếu tố đẩy trong quá trình chuyển sang công việc gig (Lin & ctg, 2026). GT thứ hai:

GT 2 (H2): CC làm tăng ý định tham gia công việc gig.

Lo ngại thất nghiệp (CU) đề cập đến khả năng khó tìm việc ổn định, gián đoạn việc làm hoặc mất việc ngoài ý muốn trong tương lai (Spurk & ctg, 2022). Dưới góc nhìn mô hình PPM, bằng chứng thực nghiệm cho thấy những lao động bị sa thải có khả năng sử dụng nền tảng như Uber để tạo thu nhập sau khi mất việc qua đó giảm phụ thuộc vào trợ cấp thất nghiệp (Fos & ctg, 2025). GT tiếp theo.

GT 3 (H3): CU làm tăng ý định tham gia công việc gig.

2.3. Lực kéo từ công việc gig

Kỳ vọng phát triển kỹ năng (SD) là nhận thức của cá nhân rằng công việc gig tạo cơ hội củng cố năng lực hiện có, tiếp thu kỹ năng mới và nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp. Người lao động trên các nền tảng trực tuyến tiếp nâng cao năng lực tự định hướng và phát triển nhiều nhóm kỹ năng thông qua công việc hằng ngày như chuyên môn và các kỹ năng giao tiếp, tự tiếp thị và quản lý công việc (Margaryan, 2024). GT thứ tư:

GT 4 (H4): SD làm tăng ý định tham gia công việc gig.

Tự chủ trong công việc (JA) thể hiện mức độ cá nhân kỳ vọng được quyết định phương pháp và cách tổ chức công việc (Spreitzer, 1995). Thực nghiệm ở nhiều môi trường, công việc nền tảng có thể mang lại mức độ linh hoạt và tự chủ cao, dù vẫn chịu giới hạn bởi cơ chế quản lý thuật toán (Wood & ctg, 2019). GT thứ năm:

GT 5 (H5): JA làm tăng ý định tham gia công việc gig.

2.4. Điều kiện neo giữ

PPM cho rằng, các điều kiện neo giữ giúp lý giải vì sao một lựa chọn có sức hấp dẫn nhưng vẫn chưa hình thành ý định rõ ràng. Rủi ro thu nhập công việc gig (GV) là sự khó dự đoán nguồn thu, khó lập kế hoạch tài chính và bất định về thời điểm thanh toán (Li & ctg, 2025). GT thứ 6 được kiểm định là:

GT 6 (H6): GV làm giảm ý định tham gia công việc gig.

Tự hiệu quả công việc gig (GE) là niềm tin của cá nhân mình có thể nhận diện cơ hội phù hợp, giới thiệu kỹ năng với khách hàng, sử dụng công cụ số và hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu (Bandura, 2006). Khi cá nhân càng tin mình có đủ năng lực để đáp ứng các yêu cầu của công việc gig, mức độ lựa chọn nghề nghiệp này càng cao (Adjaino & Adekunle, 2025). Giả thuyết thứ 7 là:

Giả thuyết 7 (H7): GE làm tăng ý định tham gia công việc gig.

Hình 1. Mô hình nghiên cứu

ý định tham gia

Nguồn: Nhóm tác giả (2026)

3. Phương pháp nghiên cứu

Mẫu thuận tiện được thu thập bằng Google Forms với sinh viên chính quy, từ xa truyền thống và trực tuyếntại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Số lượng bảng khảo sát (BKS) thu về là 283 mẫu ban đầu được làm sạch còn lại 256. 8 khái niệm tiềm ẩn với 32 biến quan sát (giá trị ghi nhận từ 1 đến 5 theo thang đo Likert) nên tổng số BKS tối thiểu cần có để phân tích là 160 (Hair et al., 2017).

3 thành phần CO, CC và CU với 4 câu hỏi mỗi thành phần được điều chỉnh theo các khía cạnh bất an nghề nghiệp của Spurk et al. (2022). SD và JA có 4 câu hỏi mỗi thành phần theo nghiên cứu của Cao & Pham (2024) và Spreitzer (1995). 3 câu hỏi phản ánh GV đến từ Caza et al. (2022). GE gồm sáu biến quan đo lường theo Bandura (2006). GI có 3 chỉ báo được hiệu chỉnh từ bài của Adjaino & Adekunle (2025).

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Đánh giá mô hình đo lường

Nữ chiếm 76,17% và nam chiếm 23,83% trong tổng số 256 người trả lời. Tỷ lệ tích lũy 65,27% là những học viên trẻ dưới 25 tuổi. Khối kinh doanh-kinh tế chiếm 92,58%, cao hơn nhiều so với hai khối còn lại. Về trải nghiệm, 77,73% chưa từng tham gia gig.

Kết quả cho thấy, tải ngoài của 32 chỉ báo nằm trong khoảng 0,720-0,876. Cronbach’s alpha dao động từ 0,751 đến 0,885; rho_A từ 0,792 đến 0,893, độ tin cậy tổng hợp từ 0,854 đến 0,920. Tất cả AVE vượt 0,50, với khoảng giá trị 0,559-0,742. Tự hiệu quả công việc gig (GE) có AVE thấp nhất nhưng các tải ngoài đều vượt 0,70. GV có hệ số Cronbach’s alpha thấp nhất nhưng CR và AVE vẫn đạt yêu cầu. Giá trị HTMT được xem xét thêm với giá trị lớn nhất là 0,466 ở cặp GE-GI tuy nhiên thấp hơn ngưỡng thận trọng 0,85 (Hair et al., 2017).

4.2. Kiểm định mô hình cấu trúc

Bảng 1. Kết quả kiểm định

ý định tham gia

Nguồn: Nhóm tác giả (2026).

Lo ngại cơ hội nghề nghiệp, lo ngại điều kiện việc lo lắng về khả năng thất nghiệp thất nghiệp, phát triển kỹ năng, tự hiệu quả làm tăng khả năng tham gia công việc gig. Giả thuyết duy nhất bị bác bỏ là giả thuyết thứ năm kiểm định tự chủ công việc làm gia tăng ý định tham gia công việc gig. Giả thuyết thứ sáu đánh giá rủi ro thu nhập có quan hệ nghịch chiều với ý định là giả thuyết duy nhất cho thấy tác động tiêu cực và được chấp nhận.

4.3. Thảo luận

Lo ngại về cơ hội nghề nghiệp, điều kiện việc làm và thất nghiệp. Sự phân biệt CO, CC và CU cũng nhất quán với cách tiếp cận bất an nghề nghiệp đa chiều (Fos et al., 2025; Spurk et al., 2022). Kết quả mở rộng lập luận của Fu (2011) thay vì chỉ giải thích giảm gắn kết nghề nghiệp kết quả cho thấy bất an về triển vọng nghề nghiệp truyền thống còn có thể chuyển hóa thành ý định hướng sang công việc gig.

Giả thuyết 4 phù hợp với nghiên cứu của Margaryan (2024) khi cho thấy các nền tảng lao động trực tuyến đồng thời là môi trường mở rộng học tập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Quyền tự chủ không có ý nghĩa thống kê đến ý định tham gia công việc gig vì rằng công việc nền tảng có thể cung cấp mức độ tự chủ đáng kể, nhưng đồng thời hành vi của người lao động vẫn bị định hình mạnh bởi các thuật toán khối lượng công việc của của nền tảng (Wood et al., 2019) hoặc trải nghiệm của người dùng (Lin et al., 2026). Kết quả này có thể liên quan đến đặc điểm mẫu nghiên cứu, khi phần lớn người tham gia là sinh viên, chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc nên mức độ coi trọng quyền tự chủ trong công việc có thể chưa cao.

GT 6 nhất quán với thách thức khả thi được xác định là 1 trong 6 thách thức cốt lõi của gig work, bao gồm: khó khăn trong việc dự đoán nguồn thu nhập và thời điểm nhận khoản thanh toán tiếp theo (Caza et al., 2022). Tại Việt Nam và Trung Quốc, nhận thức rủi ro đã cho thấy, có tác động tiêu cực đến ý định tham gia công việc gig (Cao & Pham, 2024; Li et al., 2025). Giả thuyết thứ bảy, tự hiệu quả công việc gig có tác động tích cực mạnh thứ hai đến ý định tham gia và nhất quán với Adjaino & Adekunle (2025) và Patre (2023).  

5. Kết luận, hàm ý và hạn chế

5.1. Kết luận và hàm ý

Nghiên cứu vận dụng PPM vào bối cảnh người học cân nhắc công việc gig, qua đó phân biệt 3 nhóm ảnh hưởng như những bất lợi dự kiến từ con đường truyền thống, lợi ích kỳ vọng của sự nghiệp mới và các điều kiện cá nhân có thể thuận lợi hoặc cản trở gia nhập (Fu, 2011). Việc cả rủi ro thu nhập (GV) và tự hiệu quả công việc gig (GV) có ý nghĩa cho thấy neo giữ có thể được xem xét theo hai chiều trong mô hình trực tiếp. Đây là bằng chứng cho thấy chưa khẳng định vai trò điều tiết của neo giữ thường được quan tâm trong các ứng dụng PPM khác (Wu & Huang, 2024). Một đóng góp khác là phân biệt tự chủ (JA) với tự hiệu quả (GE) thông qua việc ghi nhận tác động khác biệt rõ rệt khi chúng ảnh hưởng khác nhau đến ý định tham gia công việc gig (Adjaino & Adekunle, 2025).

Cơ sở đào tạo nên bổ sung thêm hướng nghiệp về công việc gig bên cạnh con đường làm việc truyền thống. Dự án học tập cần có sản phẩm và phản hồi cụ thể giúp người học đánh giá năng lực của mình rõ hơn. Tác động của gia tăng kỹ năng gợi ý việc thiết kế lộ trình tích lũy kỹ năng qua từng nhiệm vụ cho con đường nghề nghiệp, thay vì chỉ nhấn mạnh tính linh hoạt của hình thức làm việc (Margaryan, 2024).

Với nền tảng gig và bên thuê dịch vụ, cần tăng cường tính minh bạch về thù lao, quy trình nghiệm thu, thời gian thanh toán và cơ chế xử lý tranh chấp nhằm giảm cảm nhận rủi ro thu nhập (Caza et al., 2022). Truyền thông về gig work nên cân bằng giữa lợi ích như tính linh hoạt, khả năng phát triển kỹ năng và quyền chủ động với những yêu cầu về năng lực, trách nhiệm cá nhân và sự bất định vốn có của hình thức lao động này (Wood et al., 2019).

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Dữ liệu thời điểm, thuận tiên và tự báo cáo hạn chế suy luận nhân quả và sai lệch phương pháp chung. Khối kinh doanh-kinh tế và nhóm chưa tham gia công việc gig chiếm đa số nên kết quả khó khái quát trực tiếp cho mọi ngành hoặc người lao động. Cuối cùng, hạn chế khác của nghiên cứu là mô hình hiện tại tập trung vào các tác động trực tiếp của các nhóm yếu tố PPM đến ý định tham gia công việc gig mà chưa xem xét vai trò trung gian hay điều tiết.

Tài liệu tham khảo:

Adjaino, O. V., & Adekunle, S. A. (2025). GIG Work and Career Intention among University Students. NIU Journal of Social Sciences, 11(2), 191-199.

Bandura, A. (2006). Guide for constructing self-efficacy scales.  In F. Pajares, & T. Urdan (Eds.), Self-Efficacy Beliefs of Adolescents (pp. 307-337). Information Age Publishing.

Cao, T. M., & Pham, A. N. (2024). Generation differences in the gig economy in Vietnam. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science-Economics and Business Administration, 59-76.

Caza, B. B., Reid, E. M., Ashford, S. J., & Granger, S. (2022). Working on my own: Measuring the challenges of gig work. Human Relations, 75(11), 2122-2159.

Fos, V., Hamdi, N., Kalda, A., & Nickerson, J. (2025). Gig labor: Trading safety nets for steering wheels. Journal of Financial Economics, 163, 103956.

Fu, J.-R. (2011). Understanding career commitment of IT professionals: Perspectives of push–pull-mooring framework and investment model. International Journal of Information Management, 31(3), 279-293.

Hair, J., Hult, G. T. M., Christian M. Ringle, & Sarstedt, M. (2017). A Primer on Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM). In SAGE Publications. https://doi.org/10.1080/1743727x.2015.1005806

Li, M., Hu, X., Jin, K., & Han, J. (2025). Exploring factors influencing entry into the gig economy: A study of Chinese workers. Acta Psychologica, 259, 105301.

Lin, P. M. C., Baum, T., Chen, V. Y., & Au, W. C. W. (2026). Conventional or gig employment? Insights into food delivery workers’ workforce transformation. International Journal of Hospitality Management, 133, 104464.

Margaryan, A. (2024). The duality of global online labour platforms as restrictive‐expansive sites of workplace learning and skill development. International Journal of Training and Development, 28(3), 315-334.

Patre, S. (2023). Gig intentions in management students: Integrating JD-R in an extended TPB model. Management and Labour Studies, 48(1), 76-97.

Spreitzer, G. M. (1995). Psychological empowerment in the workplace: Dimensions, measurement, and validation. Academy of Management Journal, 38(5), 1442-1465.

Spurk, D., Hofer, A., Hirschi, A., De Cuyper, N., & De Witte, H. (2022). Conceptualizing career insecurity: Toward a better understanding and measurement of a multidimensional construct. Personnel Psychology, 75(2), 253-294.

Wood, A. J., Graham, M., Lehdonvirta, V., & Hjorth, I. (2019). Good gig, bad gig: Autonomy and algorithmic control in the global gig economy. Work, Employment and Society, 33(1), 56-75.

Wu, D., & Huang, J. L. (2024). Gig work and gig workers: An integrative review and agenda for future research. Journal of Organizational Behavior, 45(2), 183-208.

Students’ intention to engage in flexible or short-term work:
A Push - Pull - Mooring perspective

Abstract:
As career choices become increasingly diverse, this study examines the factors influencing students’ intention to engage in flexible or short-term work (gig work) through the Push -Pull - Mooring (PPM) framework. Data were collected from 256 students at Ho Chi Minh City Open University. The results show that push factors, including concerns about career opportunities, employment conditions, and unemployment, all positively influence the intention to engage in gig work. Among the pull factors, skill development has a positive effect, whereas job autonomy is not statistically significant. Regarding the mooring factors, gig work self-efficacy positively affects participation intention, while income risk has a negative effect. The findings clarify the distinct roles of work attractiveness, perceived capability to perform gig work, and livelihood-related concerns within the PPM framework, while also providing implications for students’ career orientation and preparation.

Keywords: gig work, Push - Pull - Mooring framework, job autonomy, participation intention

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 28 tháng 10 năm 2026]