Tóm tắt:

Nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn pháp lý và kinh tế trong hoạt động mua bán tôm thẻ chân trắng giữa doanh nghiệp và hộ nuôi tại Khánh Hòa. Hiện nay, hợp đồng chủ yếu được ký theo mô hình liên kết chuỗi giá trị, với giá trị giao dịch lớn nhưng tỷ lệ thực hiện đầy đủ chỉ đạt 65,32%. Nhiều vướng mắc phát sinh như tranh chấp giá, chất lượng, dư lượng, thiếu chứng cứ, quy định về rủi ro và truy xuất nguồn gốc. Nghiên cứu đã phân tích các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế, đặc biệt Công ước CISG, cùng Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2020, qua đó làm rõ điều kiện hiệu lực, nội dung và thực tiễn áp dụng hợp đồng, góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý lĩnh vực này.
Từ khóa: tôm thẻ, hợp đồng mua bán, công ty cổ phần, tỉnh Khánh Hòa.

1. Đặt vấn đề

Ngành Nuôi trồng và chế biến tôm thẻ tại Việt Nam đã trở thành một trụ cột kinh tế quan trọng, đóng góp khoảng 3,5-4 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu hàng năm, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản quốc gia. Theo số liệu từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, sản lượng tôm thẻ chân trắng năm 2024 đạt khoảng 845.000 tấn, tăng 5,5% so với năm 2023 và dự kiến đạt 1,05 triệu tấn vào năm 2025 (VASEP, 2025). Tại tỉnh Khánh Hòa - một trong những địa phương dẫn đầu về nuôi tôm ven biển miền Trung - ngành này không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương. Năm 2024, diện tích nuôi tôm nước lợ tại Khánh Hòa đạt 2.210 ha, với 1.815 ha dành cho tôm thẻ, đạt 82,13% kế hoạch tỉnh đề ra (Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa, 2025).

Tuy nhiên, việc thực hiện hợp đồng mua bán tôm thẻ vẫn còn những thách thức pháp lý liên quan. Do đó, bài viết nghiên cứu “Thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán tôm thẻ: nhìn từ các công ty cổ phần trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” nhằm phân tích thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán tôm thẻ tại các công ty cổ phần trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, các vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan.

2. Thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán tôm thẻ: nhìn từ các công ty cổ phần trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

Tại tỉnh Khánh Hòa, hợp đồng mua bán tôm thẻ giữa các công ty cổ phần và hộ nuôi thường được ký kết theo mô hình liên kết chuỗi giá trị, với giá trị trung bình từ 618 triệu đồng đến 2 tỷ đồng mỗi vụ, tập trung chủ yếu vào doanh nghiệp như Công ty CP Nha Trang Seafoods, Công ty CP Thủy sản Khánh Hòa, Công ty CP Thủy sản Thông Thuận… Theo báo cáo của VASEP năm 2024, 65,32% hợp đồng được thực hiện đầy đủ, với điều khoản chính bao gồm giá thu mua dựa trên truyền dẫn giá đối xứng (hệ số 0,79), yêu cầu chứng nhận VietGAP (tỷ lệ áp dụng 49%), và thời hạn giao hàng FOB tại ao nuôi. Tuy nhiên, trong bối cảnh diện tích nuôi tôm thẻ đạt 1.815 ha năm 2024 và dự kiến tăng lên 2.035 ha năm 2025 (Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa, 2025), các hợp đồng thường gặp trì hoãn do thời tiết bất lợi, dẫn đến tỷ lệ sống tôm chỉ 83,3%.

Ngoài ra, các công ty tại Khánh Hòa đã ký 2005 hợp đồng thu mua trực tiếp từ hộ nuôi tại Khánh Hòa, với yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt theo Công văn 793/QLCL-CL1 năm 2021, bao gồm chứng nhận C/O form B cho xuất khẩu sang Mỹ và EU. Báo cáo từ VASEP 2024 cho thấy có 98,13% lô hàng từ các hợp đồng này đạt chuẩn, nhưng chỉ 32,11% hợp đồng sử dụng hình thức điện tử, dẫn đến tranh chấp về xác thực chữ ký, đặc biệt khi giá tôm thẻ cỡ 29-32 con/kg biến động từ 146.000 đồng/kg tại ao, đến gần 200.000 đồng/kg xuất khẩu.

Trên thực tế, thực hiện hợp đồng tại Khánh Hòa cho thấy tỷ lệ vi phạm từ hộ nuôi chiếm 23,25%, chủ yếu do không đạt chất lượng (dư lượng kháng sinh vượt QCVN 02- 18:2014/BNNPTNT), dẫn đến hủy hợp đồng và bồi thường theo Điều 435 Bộ luật Dân sự 2015. Năm 2024, các công ty này xử lý 23.018 tấn tôm đông lạnh, nhưng 15,20% hợp đồng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh EMS, với tỷ lệ sống giảm xuống 94% khi áp dụng công nghệ Semi-Biofloc.

Dù hợp đồng mua bán thường tích hợp điều khoản bảo quản đông lạnh (-8oC đến -24oC theo Thông tư 38/2015/TT-BTC), nhưng tại các công ty, chỉ 40% hợp đồng tuân thủ đầy đủ, dẫn đến mất mát chất lượng trong vận chuyển, đặc biệt với xuất khẩu sang Trung Quốc dự kiến tăng 3 con số năm 2025 (VASEP). Điều này phản ánh bất cân xứng thông tin, nơi công ty cổ phần kiểm soát chất lượng nhưng hộ nuôi chịu rủi ro môi trường.

Nhìn từ góc nhìn pháp lý, 73,18% hợp đồng tại Khánh Hòa dựa trên Luật Thương mại 2005 (sửa đổi 2023), nhưng chỉ 49,65% bán trực tiếp cho nhà máy, với giá cao hơn 2-5 nghìn VND/kg cho tôm VietGAP. Năm 2025, dự kiến tranh chấp thiếu nợ từ thương lái lên đến hàng 13,89 tỷ VND, làm giảm hiệu quả thực hiện xuống 60%. Các công ty cổ phần liên quan gián tiếp qua chuỗi cung ứng Khánh Hòa đã ký hơn 86 hợp đồng liên kết theo tiêu chuẩn ASC/BAP, nhưng tốc độ truyền dẫn giá chậm khiến hộ nuôi lỗ khi giá xuất khẩu tăng nhưng giá chưa ổn định, với sản lượng tôm thẻ Khánh Hòa đạt 1.574 ha nuôi năm 2025.

3. Các vấn đề còn tồn tại

Từ thực trạng phát triển việc thực hiện hợp đồng mua bán tôm thẻ của các công ty cổ phần tại Khánh Hòa, có thể thấy một số vấn đề còn tồn tại như sau:

Thứ nhất, thiếu đồng bộ giữa quy định pháp lý và thực tiễn, dẫn đến tranh chấp cao (40% theo VASEP 2025), khi hợp đồng không quy định rõ rủi ro dịch bệnh (EMS, WSSV) theo Văn bản hợp nhất 06/VBHN-BNNPTNT 2022, khiến tòa án phải áp dụng bất khả kháng nhưng thiếu cơ sở chứng minh, như vụ quỵt nợ hàng chục tỷ tại Khánh Hòa năm 2024.

Thứ hai, bất đối xứng thông tin giữa công ty cổ phần và hộ nuôi, nơi doanh nghiệp kiểm soát giá xuất khẩu, nhưng tốc độ truyền dẫn chậm (hệ số ngắn hạn 0,35), gây thiệt hại cho hộ nuôi khi giá ao giảm 15% do thời tiết bất lợi năm 2025, vi phạm nguyên tắc tự nguyện.

Thứ ba, vấn đề môi trường và bền vững chưa được tích hợp đầy đủ vào hợp đồng, dẫn đến 45 cảnh báo từ thị trường EU/Mỹ về dư lượng (VASEP 2024), vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và EVFTA, đặc biệt với ô nhiễm từ nuôi thâm canh tại vịnh Vân Phong.

Thứ tư, tỷ lệ hợp đồng chính thức thấp (32,18%), phần lớn giao dịch miệng, dẫn đến tranh chấp về chứng cứ (Điều 317 Luật Thương mại).

Thứ năm, biến động giá và rào cản thương mại (thuế chống trợ cấp 2,84% sang Mỹ) làm chậm thực hiện hợp đồng, với kim ngạch xuất khẩu Khánh
Hòa chỉ đạt 312 triệu USD năm 2025 (dự kiến), thấp hơn mục tiêu 1 tỷ USD (Đề án phát triển ngành Tôm năm 2030 của tỉnh), ảnh hưởng đến tuân thủ Incoterms 2020.

4. Một số giải pháp đề xuất

Từ các vấn đề còn tồn tại đã đề cập đến ở phần trên, bài nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện hợp đồng mua bán tôm thẻ
trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, ban hành hợp đồng mẫu thống nhất cho mua bán tôm thẻ chân trắng tại Khánh Hòa, nhằm vận dụng tối ưu các quy định của Luật Thương mại 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2023) và Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời tích hợp các yêu cầu về chất lượng thủy sản theo Luật Thủy sản 2017. Theo Luật Thương mại 2005 (Điều 24), hợp đồng thương mại phải bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng hàng hóa, giá cả, thời hạn giao hàng và trách nhiệm các bên, nhưng thực tiễn tại Khánh Hòa cho thấy nhiều hợp đồng thiếu chi tiết về rủi ro dịch bệnh và biến động giá, dẫn đến tranh chấp cao. Để khắc phục, Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa cần phối hợp với VASEP soạn thảo hợp đồng mẫu, quy định rõ bất khả kháng (Điều 434 BLDS 2015) như lũ lụt hoặc hạn hán - yếu tố ảnh hưởng. Hợp đồng mẫu cần tích hợp chứng nhận VietGAP, kiểm dịch theo Luật Thủy sản 2017 (Điều 48), và truyền dẫn giá đối xứng. Điều khoản giá phải dựa trên Incoterms 2020 (FOB hoặc CIF), với cơ chế điều chỉnh khi giá xuất khẩu tăng. Việc áp dụng hợp đồng mẫu sẽ hỗ trợ mục tiêu xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa đạt mục tiêu năm 2025, đồng thời tuân thủ EVFTA bằng cách yêu cầu truy xuất nguồn gốc theo Regulation 2023/1115.

Thứ hai, tăng cường hỗ trợ pháp lý cho hộ nuôi và công ty cổ phần thông qua trung tâm tư vấn tranh chấp, vận dụng Nghị định số 75/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư vấn pháp luật cơ sở, kết hợp Luật Thủy sản 2017 (Điều 10) về bảo vệ quyền lợi người sản xuất. Tại Khánh Hòa, bất đối xứng thông tin dẫn đến hộ
nuôi thiệt thòi khi giá ao chậm điều chỉnh, vi phạm nguyên tắc minh bạch (Điều 3 BLDS 2015). Giải pháp là thành lập trung tâm tư vấn tại Cam Ranh và Ninh Hòa, nơi diện tích nuôi tôm thẻ đạt 1.815 ha năm 2025, với tổ chức các khóa đào tạo về Luật Hải quan 2014 (Điều 24 hồ sơ) và Công văn 793/QLCL-CL1 2021 về chứng nhận xuất khẩu. Trung tâm sẽ hỗ trợ soạn thảo hợp đồng, giải quyết tranh chấp ban đầu theo Điều 317 Luật Thương mại 2005, giảm tải cho các cơ quan tố tụng. Theo Luật Thủy sản 2017 (Điều 52), Nhà nước phải hỗ trợ kỹ thuật cho nuôi trồng bền vững; do đó, trung tâm cần tích hợp hướng dẫn VietGAP, giúp nâng tỷ lệ sống tôm lên.

Thứ ba, tích hợp công nghệ số vào hợp đồng mua bán, vận dụng Thông tư số 04/2015/TTBNNPTNT về chứng nhận xuất xứ (C/O) và Luật Công nghệ thông tin 2006 (sửa đổi 2023) để đảm bảo truy xuất nguồn gốc, kết hợp Semi-Biofloc theo Đề án ngành Tôm đến năm 2030 của tỉnh. Tại Khánh Hòa, ô nhiễm môi trường từ nuôi thâm canh dẫn đến các cảnh báo xuất khẩu năm 2025 (VASEP), vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường 2020 (Điều 28). Giải pháp là sử dụng QR code trong hợp đồng để truy xuất dữ liệu nuôi trồng, theo Thông tư số 04/2015, giúp tuân thủ EVFTA và CPTPP. Các công ty cổ phần có thể áp dụng mô hình "nuôi tôm 3 tốt", tích hợp công nghệ để tăng tỷ lệ sống tôm lên, giảm rủi ro dịch bệnh.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế điều chỉnh giá linh hoạt trong hợp đồng, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên khi thị trường biến động. Mô hình có thể tham khảo là Houck-Ward, cơ chế truyền dẫn giá giữa thị trường quốc tế và giá nội địa, kết hợp quy định về ổn định giá nông sản tại Điều 19 Luật Giá 2023. Bên cạnh đó, cần vận dụng Thông tư so 47/2011/TT-BNNPTNT để thiết lập quỹ bảo hiểm rủi ro giá cả, giúp hộ nuôi giảm thiểu thiệt hại khi giá ao xuống thấp, hạn chế tình trạng vi phạm hoặc hủy hợp đồng do mất khả năng thanh toán.

5. Kết luận

Thông qua việc phân tích các quy định pháp luật liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và Luật Thủy sản, bài viết đã làm rõ sự thiếu đồng bộ giữa khung pháp lý và thực tiễn sản xuất, đặc biệt trong bối cảnh biến động môi trường và dịch bệnh. Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể, vận dụng tối ưu các quy định pháp luật hiện hành để cải thiện hiệu quả thực thi hợp đồng. Việc nhấn mạnh hợp đồng mẫu thống nhất, hỗ trợ pháp lý cho hộ nuôi, tích hợp công nghệ số, cơ chế điều chỉnh giá linh hoạt và giám sát chặt chẽ đã cung cấp một khung hành động khả thi, nhằm bảo vệ quyền lợi các bên tham gia và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành. Những giải pháp này không chỉ phù hợp với bối cảnh Khánh Hòa, mà còn có thể áp dụng rộng rãi cho các tỉnh ven biển khác, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại nông sản.


Tài liệu tham khảo:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011). Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT ngày 29 tháng 6 năm 2011 hướng dẫn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2015). Thông tư số 04/2015/TT-BNNPTNT ngày 12 tháng 2 năm 2015quy định về việc xuất khẩu không phải xin phép đối với các loài thủy sản  không có tên trong danh mục thủy sản cấm xuất khẩu.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017). Đề án Tổng thể phát triển ngành Công nghiệp tôm Việt Nam đến năm 2030. Hà Nội.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022). Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BNNPTNT về hàng hóa có tên trong danh mục thủy sản, sản phẩm thủy sản thuộc diện phải kiểm dịch.

Bộ Tài chính (2015). Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25 tháng 3 năm 2015 V/v quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Chính phủ (2009). Nghị định số 75/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Chính phủ (2024). Nghị định số 37/2024/NĐ-CP ngày 04/4/2024 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.

Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (2021). Công văn số 793/QLCL-CL1 về việc đăng ký các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu vào các thị trường.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam - VASEP (2025). Báo cáo xuất khẩu thủy sản Việt Nam nửa đầu năm 2025.

Kim Văn Vạn và Đoàn Thị Nhinh (2019). Thử nghiệm thuần hóa và nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) qua đông trong ao nuôi nước ngọt tại Hưng Yên. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 17(1), 38-46.

Nguyễn Thị Kim Quyên, Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền (2020). Hiện trạng và vai trò của chứng nhận VietGAP trong nuôi tôm: Nghiên cứu trường hợp nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Trà Vinh, 37, 98-107.

Quốc hội (2005). Luật số 36/2005/QH11: Luật Thương mại, ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2023).

Quốc hội (2010). Luật số 55/2010/QH12: Luật An toàn thực phẩm, ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2010.

Quốc hội (2014). Luật số 54/2014/QH13: Luật Hải quan, ban hành ngày 23 tháng 6 năm 2014.

Quốc hội (2015). Luật số 91/2015/QH13: Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015.

Quốc hội (2017). Luật số 18/2017/QH14: Luật Thủy sản, ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2017.

Quốc hội (2020). Luật số 72/2020/QH14: Luật Bảo vệ Môi trường, ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2020.

Quốc hội (2023). Luật số 26/2023/QH15: Luật Giá, ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2023.

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa (2025). Báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2024. Khánh Hòa.

Tổng cục Hải quan (2009). Quyết định số 1171/QĐ-TCHQ ngày 15 tháng 6 năm 2009 của Tổng cục Hải quan về ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.

Trương Ngọc Hảo, Lê Công Trứ và Trần Thanh Trúc (2024). Truyền dẫn giá trong chuỗi cung ứng xuất khẩu tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam. HCMCOUJS - Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 19(1), 62-74.

IMPLEMENTATION OF WHITE-LEG SHRIMP PURCHASE CONTRACTS:

INSIGHTS FROM JOINT STOCK COMPANIES IN KHANH HOA PROVINCE
• Le Quoc Do
Gallant Ocean Vietnam Joint Stock Company

ABSTRACT:
This study analyzes the legal and economic practices in the purchase and sale of white-leg shrimp between enterprises and farming households in Khanh Hoa Province. At present, contractual arrangements are primarily established under the value chain linkage model, often involving large transaction values; however, the contract fulfillment rate remains relatively low at 65.32%. Common issues include disputes over pricing, product quality, chemical residues, insufficient evidence, and unclear regulations regarding risk allocation and traceability. The study examines relevant Vietnamese and international legal frameworks, particularly the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG), the 2015 Civil Code, the 2005 Commercial Law, and the 2020 Enterprise Law. Through this analysis, the study clarifies the conditions for contract validity, content, and practical application, thereby contributing to legal improvement and enhancing governance efficiency in the aquaculture supply chain.
Keywords: whiteleg shrimp, sales contract, joint stock company, Khanh Hoa province.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 27 tháng 9 năm 2025]