Tóm tắt:

Tại bài viết này, tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn lưu động tại các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam bằng phương pháp tổng hợp tài liệu, phân tích nội dung và nghiên cứu tình huống định tính. Khung phân tích gồm 7 nhân tố khách quan, gồm: tiến độ nghiệm thu - thanh toán; năng lực thanh toán của chủ đầu tư; biến động giá đầu vào; điều kiện tín dụng và lãi suất; thủ tục pháp lý và giải ngân; điều kiện thi công và chuỗi cung ứng; chu kỳ thị trường xây dựng và đầu tư công. 9 nhân tố chủ quan, gồm: lựa chọn danh mục dự án, chất lượng hợp đồng, tổ chức thi công, năng lực quản trị, phân cấp và kiểm soát nội bộ, vị thế thương lượng, dự báo dòng tiền, cơ cấu nguồn tài trợ, chất lượng thông tin và mức độ số hóa. Qua nghiên cứu trường hợp tại Công ty Cổ phần Xây dựng C BHI (C BHI), Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (Hòa Bình), Công ty Cổ phần Xây dựng Coteccons (Coteccons) và Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) cho thấy, hiệu quả quản trị phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa vốn từ thi công sang nghiệm thu, khoản phải thu và tiền thực nhận, thay vì chỉ dựa trên quy mô các khoản mục kế toán. Kết quả nhấn mạnh sự cần thiết phải đồng bộ tiến độ, hồ sơ pháp lý, hợp đồng, dữ liệu và nguồn tài trợ trên toàn danh mục dự án.

Từ khóa: doanh nghiệp xây dựng, quản trị vốn lưu động, năng lực quản trị, kiểm soát nội bộ, dòng tiền dự án

1. Đặt vấn đề

Hoạt động xây dựng có độ trễ lớn giữa thời điểm phát sinh chi phí và thời điểm thu được tiền. Nhà thầu phải ứng vốn cho vật tư, nhân công, thiết bị, nhà thầu phụ, bảo lãnh và tổ chức công trường, trong khi dòng tiền thu thường chỉ hình thành sau khi khối lượng hoàn thành được xác nhận, hồ sơ nghiệm thu được chấp thuận và chủ đầu tư thực hiện thanh toán. Vì vậy, một dự án có lợi nhuận dự kiến tích cực vẫn có thể tạo ra thiếu hụt tiền kéo dài nếu lịch thu không phù hợp với lịch chi hoặc nếu vốn bị giữ lâu trong chi phí dở dang, khoản phải thu và khoản giữ lại theo hợp đồng.

Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp xây dựng do đó không thể giới hạn ở việc theo dõi số dư tiền, hàng tồn kho và nợ ngắn hạn tại ngày lập báo cáo. Vấn đề cốt lõi nằm ở khả năng chuyển vốn đã ứng cho công trường thành khối lượng đủ điều kiện nghiệm thu, chuyển khối lượng đã nghiệm thu thành quyền thu tiền và chuyển quyền thu tiền thành dòng tiền thực nhận. Mỗi khâu đều có thể phát sinh độ trễ, trong khi doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục trả lương, mua vật tư, thanh toán nhà thầu phụ và thực hiện nghĩa vụ tín dụng. Chu kỳ tiền vì thế phụ thuộc đồng thời vào tiến độ kỹ thuật, chất lượng hồ sơ, điều khoản hợp đồng, năng lực thanh toán của chủ đầu tư và cấu trúc nguồn vốn của nhà thầu.

Các nghiên cứu về vốn lưu động cho thấy, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các cấu phần vốn lưu động có quan hệ đáng kể với khả năng sinh lời, nhưng mức độ tác động thay đổi theo ngành và trạng thái tài chính của doanh nghiệp (Deloof, 2003; Le et al., 2017; Vo & Ngo, 2023). Đối với doanh nghiệp xây dựng Việt Nam, đặc điểm dự án kéo dài, thanh toán theo khối lượng, tỷ lệ vốn ứng trước lớn và sự phụ thuộc vào hồ sơ pháp lý làm cho rủi ro vốn lưu động có tính tích lũy. Trường hợp C BHI minh họa khá rõ đặc điểm này: tổng tài sản ngắn hạn tăng từ 145.609 triệu đồng cuối năm 2023 lên 286.543 triệu đồng cuối năm 2025; trong đó các khoản phải thu ngắn hạn tăng từ 42.038 lên 91.408 triệu đồng và hàng tồn kho, chủ yếu gắn với chi phí sản xuất - kinh doanh dở dang, tăng từ 79.680 lên 139.923 triệu đồng (Trần Thị Mỹ Linh, 2026).

2. Cơ sở phân tích và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đặc điểm quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp xây dựng

Vốn lưu động là số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành tài sản ngắn hạn phục vụ chu kỳ kinh doanh. Theo cách tiếp cận tài chính doanh nghiệp, quản trị vốn lưu động bao gồm xác định nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn tài trợ và kiểm soát các khoản mục ngắn hạn nhằm duy trì hoạt động liên tục, bảo đảm khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2023). Trong doanh nghiệp xây dựng, vốn lưu động không chỉ tồn tại dưới dạng tiền, vật tư và khoản phải thu mà còn nằm trong khối lượng đang thi công, chi phí phát sinh chưa được phê duyệt, hồ sơ chờ nghiệm thu, khoản giữ lại và số tiền doanh nghiệp đã thanh toán trước cho nhà cung cấp hoặc nhà thầu phụ.

Đặc điểm sản xuất theo đơn đặt hàng làm cho mỗi công trình có một chu kỳ vốn riêng. Dòng chi phụ thuộc vào tiến độ huy động nhân lực, thiết bị và vật tư; dòng thu phụ thuộc vào mốc nghiệm thu, điều kiện hồ sơ và nguồn thanh toán của chủ đầu tư. Khi nhiều dự án được triển khai đồng thời, các chu kỳ riêng này chồng lấn và tạo thành nhu cầu vốn hợp nhất của toàn doanh nghiệp. Một dự án có thể tạo dòng tiền dương trong tháng này nhưng cần vốn lớn ở tháng sau; dự án khác có thể đã hoàn thành phần lớn khối lượng nhưng chưa đủ hồ sơ để thu tiền. Vì vậy, quy mô vốn lưu động không tỷ lệ đơn giản với doanh thu mà chịu ảnh hưởng mạnh từ cơ cấu giai đoạn của danh mục dự án.

Trong thực tế, cùng một mức khoản phải thu hoặc chi phí dở dang có thể phản ánh những trạng thái rất khác nhau. Khoản phải thu đã có đầy đủ hồ sơ và được chủ đầu tư xác nhận có khả năng chuyển thành tiền khác với khoản đang tranh chấp hoặc phụ thuộc vào quyết toán. Dở dang phát sinh từ khối lượng đang thi công đúng tiến độ khác với dở dang tồn kéo dài do thiếu mặt bằng, thay đổi thiết kế hoặc phát sinh chưa được phê duyệt. Do đó, phân tích vốn lưu động cần xem xét chất lượng và khả năng chuyển hóa của từng khoản mục, thay vì chỉ đánh giá quy mô tuyệt đối tại một thời điểm.

2.2. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu

Các nhân tố ảnh hưởng được chia thành 2 nhóm. Nhóm khách quan xuất phát từ môi trường dự án, thị trường và các chủ thể bên ngoài mà doanh nghiệp khó kiểm soát hoàn toàn, bao gồm tiến độ nghiệm thu - thanh toán, năng lực thanh toán của chủ đầu tư, biến động giá đầu vào, điều kiện tín dụng, thủ tục pháp lý, điều kiện thi công và chu kỳ thị trường xây dựng. Nhóm chủ quan phản ánh năng lực, cơ chế và điều kiện tổ chức bên trong doanh nghiệp, bao gồm lựa chọn và cơ cấu danh mục dự án, chất lượng hợp đồng, năng lực tổ chức thi công, năng lực đội ngũ quản lý, cơ chế phân cấp và kiểm soát nội bộ, vị thế thương lượng với đối tác, năng lực dự báo dòng tiền, cơ cấu nguồn tài trợ, chất lượng thông tin và mức độ phối hợp giữa các bộ phận. Việc phân nhóm này được xây dựng trên cơ sở kết hợp các kết quả nghiên cứu về chu kỳ vốn lưu động với các đặc thù nghiệm thu, thanh toán và tài trợ trong doanh nghiệp xây dựng Việt Nam (Le et al., 2017; Vo & Ngo, 2023).

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, phân tích nội dung và nghiên cứu tình huống định tính. Các lập luận chung được xây dựng từ cơ sở lý luận về vốn lưu động và đặc điểm hoạt động xây dựng. Trường hợp C BHI được khai thác từ đề án quản trị vốn lưu động và số liệu báo cáo tài chính giai đoạn 2023-2025 của doanh nghiệp; Hòa Bình, Coteccons và Vinaconex được sử dụng như những trường hợp minh họa cho các trạng thái khác nhau về công nợ, thanh khoản và cơ cấu hoạt động. Việc minh họa không nhằm xếp hạng doanh nghiệp hoặc suy rộng từ một chỉ tiêu riêng lẻ, mà nhằm chỉ ra cùng một nhân tố có thể tạo ra mức độ ảnh hưởng khác nhau tùy theo danh mục dự án, chất lượng tài sản ngắn hạn và khả năng tiếp cận nguồn vốn. Thông tin về đặc điểm doanh nghiệp, danh mục dự án, công nợ, tài sản ngắn hạn, cơ cấu nguồn vốn và trạng thái thanh khoản được đối chiếu với nguồn chính thức của C BHI và báo cáo thường niên, báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán gần nhất của Hòa Bình, Coteccons và Vinaconex.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn lưu động

3.1. Nhóm nhân tố khách quan

- Tiến độ nghiệm thu và thanh toán

Đây là nhân tố tác động trực tiếp nhất đến thời gian luân chuyển vốn của nhà thầu. Khi khối lượng đã thực hiện nhưng chưa được nghiệm thu, chi phí vẫn nằm trong dở dang; khi đã nghiệm thu nhưng chưa thanh toán, vốn chuyển sang khoản phải thu. Cả 2 trạng thái đều làm giảm lượng tiền sẵn có và kéo dài thời gian doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay hoặc tín dụng thương mại. Ảnh hưởng tăng mạnh khi nhiều dự án cùng chậm thanh toán hoặc khi các đợt chi lớn tập trung trước thời điểm nghiệm thu. Tại C BHI, dòng tiền thu gắn chặt với tốc độ hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật và xác nhận khối lượng. Kỳ thu tiền bình quân tăng từ 58,82 ngày năm 2023 lên 70,59 ngày năm 2024, sau đó giảm còn 61,02 ngày năm 2025; diễn biến này cho thấy việc đẩy nhanh nghiệm thu và thu hồi công nợ có thể cải thiện đáng kể tốc độ quay vòng vốn. Trường hợp tại Hòa Bình cho thấy, khi công nợ tích tụ trong thời gian dài, tác động không còn dừng ở giảm hiệu quả sử dụng vốn mà có thể chuyển thành áp lực thanh khoản, chậm thanh toán cho đối tác và nhu cầu tái cơ cấu tài chính. Đối với Vinaconex, việc tham gia các dự án xây dựng và hạ tầng quy mô lớn làm dòng vốn lưu động nhạy cảm với tiến độ giải ngân và mốc nghiệm thu của từng gói thầu.

- Năng lực tài chính và kỷ luật thanh toán của chủ đầu tư

2 hợp đồng có điều khoản tương tự vẫn có thể tạo ra chu kỳ thu tiền rất khác nhau nếu năng lực tài chính của chủ đầu tư khác nhau. Chủ đầu tư có nguồn vốn chưa được bố trí đầy đủ, phụ thuộc vào bán hàng, tín dụng hoặc ngân sách giải ngân theo kỳ có thể kéo dài thời gian thanh toán dù hồ sơ đã hoàn thành. Khi đó, khoản phải thu của nhà thầu tăng lên không phải do tiến độ thi công yếu mà do nguồn tiền ở phía khách hàng chưa sẵn sàng. Mức độ ảnh hưởng đặc biệt lớn khi công nợ tập trung vào một vài chủ đầu tư, bởi khó khăn của một khách hàng có thể làm gián đoạn dòng tiền của nhiều công trình cùng lúc. Tại C BHI, chất lượng dòng thu không chỉ phụ thuộc vào giá trị nghiệm thu mà còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán thực tế của từng chủ đầu tư. Phải thu ngắn hạn của khách hàng tăng từ 42.038 triệu đồng cuối năm 2023 lên 85.169 triệu đồng cuối năm 2025; một khách hàng lớn cuối năm 2025 có số phải thu trên 30 tỷ đồng, cho thấy rủi ro tập trung công nợ vẫn đáng lưu ý. Với Hòa Bình, sự gia tăng công nợ tại một số dự án cho thấy rủi ro khách hàng có thể lan sang khả năng thanh toán của chính nhà thầu. Trường hợp Coteccons có nền tảng tiền tốt hơn nhưng vẫn chịu ảnh hưởng thông qua thời gian thu nợ và chi phí cơ hội của lượng vốn bị chiếm dụng. Nhân tố này vì vậy quyết định chất lượng khoản phải thu chứ không chỉ quyết định quy mô của khoản phải thu.

- Biến động giá đầu vào

Giá thép, xi măng, cát, nhiên liệu, nhân công và dịch vụ thuê ngoài thay đổi làm thay đổi số tiền phải ứng cho cùng một khối lượng thi công. Trong hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng có cơ chế điều chỉnh giá chậm, phần tăng chi phí phát sinh trước khi được bù đắp làm nhu cầu vốn lưu động tăng ngay, đồng thời thu hẹp biên an toàn của ngân sách dự án. Doanh nghiệp mua vật tư sớm để phòng ngừa tăng giá sẽ giữ vốn lâu hơn trong kho hoặc tại công trường; doanh nghiệp trì hoãn mua có thể làm tiến độ thi công chậm và kéo theo chậm nghiệm thu. Tại C BHI, tác động thể hiện ở sự lệch pha giữa kế hoạch mua vật tư, tiến độ sử dụng và lịch thanh toán của chủ đầu tư. Với các nhà thầu có danh mục công trình lớn như Coteccons hoặc Hòa Bình, biến động giá diễn ra đồng thời ở nhiều dự án nên lượng vốn bổ sung có thể tăng nhanh dù tổng giá trị hợp đồng chưa thay đổi tương ứng. Vinaconex còn chịu ảnh hưởng khác nhau giữa các dự án hạ tầng, xây lắp và đầu tư, do cơ cấu vật tư và khả năng điều chỉnh giá không giống nhau.

- Điều kiện tín dụng và mặt bằng lãi suất

Doanh nghiệp xây dựng thường sử dụng hạn mức ngắn hạn để bù đắp khoảng cách giữa chi phí thi công và dòng tiền thanh toán. Vì vậy, lãi suất, yêu cầu tài sản bảo đảm, điều kiện giải ngân, phí bảo lãnh và khả năng gia hạn hạn mức tác động trực tiếp đến chi phí cũng như quy mô vốn có thể huy động. Khi tín dụng bị thu hẹp, doanh nghiệp không chỉ chịu chi phí vốn cao hơn mà còn khó duy trì đồng thời nhiều công trường. Rủi ro tăng thêm nếu vốn ngắn hạn được sử dụng cho khoản phải thu hoặc dở dang có thời gian thu hồi dài, bởi doanh nghiệp có thể phải đảo nợ trước khi thu được tiền dự án. Tại C BHI, nợ ngắn hạn tăng từ 89.256 triệu đồng cuối năm 2023 lên 200.727 triệu đồng cuối năm 2025; chi phí lãi vay đồng thời tăng từ 1.785 lên 5.022 triệu đồng, làm hệ số khả năng thanh toán lãi vay giảm từ 2,81 xuống 1,89 lần. Số liệu cho thấy, khi quy mô thi công tăng, điều kiện tín dụng và chi phí vốn trở thành áp lực trực tiếp đối với quản trị vốn lưu động. Hòa Bình là trường hợp cho thấy, khi công nợ lớn và dòng tiền kinh doanh suy yếu, khả năng tái cấp vốn trở thành yếu tố quyết định đối với nhịp độ hoạt động. Ngược lại, Coteccons có dự trữ thanh khoản tốt hơn nên tác động của lãi suất trước hết thể hiện ở chi phí cơ hội và hiệu quả sử dụng tiền, thay vì nguy cơ thiếu vốn tức thời.

- Thủ tục pháp lý và cơ chế giải ngân

Thủ tục phê duyệt dự án, điều chỉnh thiết kế, xác nhận phát sinh, nghiệm thu, quyết toán và giải ngân có thể kéo dài thời gian vốn nằm trong công trình mà không làm thay đổi ngay giá trị kinh tế của khối lượng đã thực hiện. Khi một hạng mục chưa đủ căn cứ pháp lý để nghiệm thu hoặc chi phí phát sinh chưa được phê duyệt, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán cho người lao động, nhà cung cấp và nhà thầu phụ nhưng chưa hình thành quyền thu tiền chắc chắn. Ảnh hưởng đặc biệt rõ ở dự án hạ tầng, dự án sử dụng vốn nhà nước hoặc dự án có nhiều cấp phê duyệt. Vinaconex, với hoạt động vừa xây dựng vừa đầu tư, chịu tác động đồng thời từ tiến độ pháp lý của dự án và tiến độ hồ sơ của nhà thầu. Tại C BHI, hồ sơ phát sinh hoặc nghiệm thu chưa hoàn chỉnh làm chi phí dở dang kéo dài và làm giảm độ tin cậy của dự báo dòng tiền. Đối với Hòa Bình và Coteccons, số lượng dự án lớn khiến chỉ một tỷ lệ nhỏ hồ sơ bị kéo dài cũng có thể tạo ra lượng vốn đáng kể chưa được chuyển thành khoản phải thu hoặc tiền.

- Điều kiện tự nhiên, mặt bằng và chuỗi cung ứng

Thời tiết bất lợi, địa chất phức tạp, chậm bàn giao mặt bằng, hạn chế vận chuyển hoặc gián đoạn nguồn cung có thể làm tiến độ thi công chậm hơn kế hoạch trong khi nhiều chi phí cố định tại công trường vẫn tiếp tục phát sinh. Vốn đã chi cho vật tư, nhân công và thiết bị vì thế nằm trong dự án lâu hơn, còn thời điểm nghiệm thu và thu tiền bị đẩy lùi. Khi mặt bằng chỉ được bàn giao từng phần, doanh nghiệp có thể phải huy động nguồn lực nhưng không sử dụng hết công suất, làm tăng chi phí chờ và nhu cầu vốn lưu động trên một đơn vị khối lượng hoàn thành. Tại C BHI, sự chậm trễ ở mặt bằng hoặc vật tư có thể làm mất cân đối giữa lịch chi đã cam kết với nhà cung cấp và lịch thu dự kiến. Với Vinaconex, các công trình hạ tầng trải rộng về địa bàn làm ảnh hưởng của điều kiện thi công và logistics rõ hơn. Coteccons và Hòa Bình, do thường tổ chức nhiều công trường đồng thời, có thể bù trừ nguồn lực giữa dự án ở một mức độ nhất định, nhưng sự gián đoạn trên diện rộng vẫn làm tăng tồn vật tư, chi phí chờ và áp lực thanh toán ngắn hạn.

- Chu kỳ thị trường xây dựng và tiến độ đầu tư công

Sự mở rộng hoặc thu hẹp của thị trường xây dựng ảnh hưởng đồng thời đến số lượng dự án, mức độ cạnh tranh, điều kiện thanh toán và khả năng huy động vốn của chủ đầu tư. Khi thị trường tăng trưởng nhanh, doanh nghiệp có thể nhận nhiều hợp đồng nhưng nhu cầu vốn cũng tăng mạnh do nhiều dự án cùng khởi động. Khi thị trường suy giảm, số dự án mới giảm, chủ đầu tư gặp khó khăn về bán hàng hoặc tín dụng, làm thời gian thu tiền kéo dài và chất lượng khoản phải thu suy giảm. Đối với dự án hạ tầng, tiến độ phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công tạo ra nhịp điệu riêng cho dòng tiền của nhà thầu. Vinaconex chịu ảnh hưởng tương đối rõ do tham gia cả xây lắp và đầu tư dự án; Hòa Bình và Coteccons nhạy cảm hơn với chu kỳ bất động sản và năng lực tài chính của khách hàng tư nhân. C BHI có quy mô nhỏ hơn nên khả năng phân tán rủi ro hạn chế hơn. Do đó, việc một phân khúc hoặc nhóm chủ đầu tư chậm lại có thể tác động mạnh đến vòng quay vốn của toàn doanh nghiệp.

3.2. Nhóm nhân tố chủ quan

- Lựa chọn danh mục dự án

Quy mô, thời gian thực hiện và cơ cấu khách hàng của danh mục dự án quyết định mức vốn doanh nghiệp phải bố trí đồng thời. Khi nhiều công trình cùng bước vào giai đoạn cao điểm, nhu cầu mua vật tư, trả lương và thanh toán nhà thầu phụ có thể tăng nhanh hơn dòng tiền thu từ các giai đoạn trước. Danh mục tập trung vào dự án có thời gian thanh toán dài hoặc phụ thuộc vào cùng một nhóm chủ đầu tư làm rủi ro vốn lưu động tăng mạnh, kể cả khi từng hợp đồng riêng lẻ có lợi nhuận dự kiến. Tại C BHI, nhu cầu vốn của từng công trường có thể không lớn nếu xem riêng, nhưng việc nhiều dự án đồng thời tăng khối lượng thi công làm nhu cầu vốn hợp nhất tăng đột biến. Trường hợp Hòa Bình phản ánh rõ áp lực của danh mục dự án lớn trong bối cảnh công nợ thu hồi chậm. Coteccons có mức thanh khoản tốt hơn, song việc phân bổ vốn giữa các dự án vẫn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tiền. Với Vinaconex, danh mục kết hợp xây lắp và đầu tư làm chu kỳ vốn đa dạng hơn và đòi hỏi nguồn tài trợ có kỳ hạn khác nhau.

- Chất lượng hợp đồng

 Hợp đồng quyết định mức tạm ứng, mốc nghiệm thu, thời hạn xác nhận hồ sơ, khoản giữ lại, cơ chế điều chỉnh giá, xử lý phát sinh và trách nhiệm khi chậm thanh toán. Điều khoản không rõ hoặc phân bổ rủi ro bất lợi làm doanh nghiệp phải ứng vốn nhiều hơn, thu tiền chậm hơn và khó thu hồi các chi phí ngoài dự toán. Ảnh hưởng xuất hiện ngay từ trước khi thi công, bởi hợp đồng xác định khoảng cách dự kiến giữa dòng chi và dòng thu trong toàn bộ chu kỳ dự án. Tại C BHI, các mốc thanh toán gắn chặt với hồ sơ và khối lượng được xác nhận, nên hợp đồng thiếu quy định cụ thể về thời hạn xử lý hồ sơ có thể làm vốn bị treo. Với Coteccons, Hòa Bình và các tổng thầu lớn, khoản giữ lại và chi phí phát sinh tại nhiều dự án cùng lúc có thể tạo ra lượng vốn bị chiếm dụng đáng kể dù doanh thu đã được ghi nhận. Vinaconex còn phải xử lý sự khác biệt giữa hợp đồng xây lắp và các thỏa thuận liên quan đến dự án đầu tư, làm tính chất vốn lưu động phức tạp hơn.

- Năng lực tổ chức thi công và kiểm soát tiến độ

Đây là năng lực chuyển nguồn lực đã huy động thành khối lượng đủ điều kiện nghiệm thu theo đúng kế hoạch, chứ không phải bản thân số dư chi phí dở dang. Năng lực này thể hiện qua chất lượng lập tiến độ, điều phối nhân lực - thiết bị - vật tư, xử lý điểm nghẽn và đồng bộ tiến độ vật chất với mốc hồ sơ, nghiệm thu và thanh toán. Tổ chức thi công yếu làm phát sinh chi phí chờ, kéo dài thời gian sử dụng vật tư và tăng khối lượng chưa đủ điều kiện thu tiền. Ngược lại, đẩy nhanh thi công vượt quá khả năng hoàn thiện hồ sơ hoặc khả năng thanh toán của chủ đầu tư cũng có thể tạo ra đỉnh nhu cầu vốn lớn. Tại C BHI, vòng quay hàng tồn kho tăng từ 3,24 vòng năm 2023 lên 5,06 vòng năm 2025, tương ứng số ngày luân chuyển giảm từ 111,11 xuống 71,15 ngày. Đây là tín hiệu tích cực về khả năng chuyển hóa chi phí dở dang, mặc dù giá trị hàng tồn kho cuối năm 2025 vẫn ở mức 139.923 triệu đồng do quy mô dự án tăng mạnh. Đối với Hòa Bình và Coteccons, năng lực điều phối nhiều công trường quyết định mức độ phân tán vốn; còn tại Vinaconex, sự chậm trễ của một hạng mục có thể làm dịch chuyển mốc nghiệm thu của các hạng mục liên quan.

- Năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo và cán bộ tài chính - dự án

 Trình độ, kinh nghiệm và kỷ luật ra quyết định của đội ngũ quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến cách doanh nghiệp đánh giá dự án, lựa chọn khách hàng, xác định nhu cầu vốn và xử lý các dấu hiệu suy giảm dòng tiền. Đội ngũ chỉ tập trung vào doanh thu hoặc lợi nhuận dự kiến mà không xem xét thời gian thu hồi vốn có thể chấp nhận những hợp đồng tạo ra khoảng trống tiền mặt lớn. Năng lực hạn chế cũng làm doanh nghiệp phản ứng chậm trước hồ sơ bị ách tắc, công nợ có dấu hiệu quá hạn hoặc chi phí phát sinh chưa được phê duyệt. Ngược lại, nhà quản lý có kinh nghiệm có thể nhận diện sớm rủi ro, phân loại nguyên nhân và lựa chọn biện pháp phù hợp trước khi số dư khoản phải thu hoặc dở dang trở thành vấn đề thanh khoản. Tại C BHI, chất lượng tổng hợp thông tin từ công trường lên cấp điều hành có ý nghĩa quyết định đối với kế hoạch vốn. Với Hòa Bình, Coteccons và Vinaconex, quy mô danh mục lớn làm yêu cầu về năng lực phân tích, phân quyền và giám sát càng cao.

- Cơ chế phân cấp, kiểm soát nội bộ

Cơ chế phân cấp quyết định ai được cam kết chi, phê duyệt mua sắm, chấp thuận tạm ứng, xác nhận phát sinh và điều chỉnh ngân sách dự án. Phân cấp không rõ hoặc kiểm soát lỏng lẻo có thể làm các công trường cam kết chi vượt kế hoạch, mua trước nhu cầu, tạm ứng kéo dài hoặc ghi nhận phát sinh không đầy đủ căn cứ. Ngược lại, kiểm soát quá tập trung và nhiều tầng nấc cũng có thể làm chậm quyết định mua hàng, xử lý hồ sơ và nghiệm thu, qua đó kéo dài chu kỳ vốn. Một cơ chế phù hợp cần kết hợp hạn mức trách nhiệm, kiểm tra trước - trong - sau, đối chiếu ngân sách với tiến độ và cảnh báo sớm các khoản vượt ngưỡng. Tại C BHI, việc thống nhất quy trình phê duyệt giữa công trường và trụ sở giúp hạn chế chênh lệch giữa kế hoạch chi và dòng tiền thực tế. Đối với doanh nghiệp lớn như Coteccons, Hòa Bình và Vinaconex, kiểm soát nội bộ hiệu quả giúp giảm rủi ro phát sinh phân tán trên nhiều dự án và nhiều cấp quản lý.

- Vị thế thương lượng và chất lượng quan hệ với chủ đầu tư, nhà cung cấp và nhà thầu phụ

Vị thế thương lượng quyết định mức tạm ứng, mốc thanh toán, tỷ lệ giữ lại, thời hạn xác nhận hồ sơ, điều kiện điều chỉnh giá và thời hạn tín dụng thương mại mà doanh nghiệp có thể đạt được. Doanh nghiệp có uy tín, năng lực thực hiện tốt và quan hệ đối tác ổn định thường có khả năng rút ngắn thời gian xác nhận khối lượng, đàm phán lịch thanh toán phù hợp hoặc nhận được kỳ hạn tín dụng tốt hơn từ nhà cung cấp. Ngược lại, vị thế yếu làm phần lớn rủi ro vốn bị chuyển sang nhà thầu: doanh nghiệp phải ứng trước nhiều hơn, chịu giữ lại lâu hơn hoặc thanh toán cho đối tác sớm hơn thời điểm thu tiền. Tại C BHI, khoảng cách giữa lịch trả nhà cung cấp, nhà thầu phụ và lịch thu từ chủ đầu tư phụ thuộc đáng kể vào điều kiện đàm phán của từng hợp đồng. Với Coteccons, Hòa Bình và Vinaconex, quy mô và uy tín có thể tạo lợi thế thương lượng, nhưng mức độ lợi thế vẫn khác nhau theo chủ đầu tư, loại dự án và trạng thái thị trường.

- Năng lực dự báo dòng tiền

Dự báo dòng tiền quyết định khả năng nhận diện sớm thời điểm thiếu hoặc thừa vốn. Trong xây dựng, dự báo không thể chỉ dựa trên doanh thu kế toán mà phải dựa vào tiến độ thi công, lịch mua vật tư, nghĩa vụ với nhà thầu phụ, mốc nghiệm thu, trạng thái hồ sơ và xác suất thanh toán của từng chủ đầu tư. Dự báo quá lạc quan làm doanh nghiệp nhận thêm dự án hoặc cam kết chi vượt khả năng tài trợ; dự báo quá thận trọng làm tiền nhàn rỗi cao và giảm hiệu quả sử dụng vốn. Tại C BHI, tiền và tương đương tiền tăng từ 18.615 triệu đồng cuối năm 2023 lên 50.175 triệu đồng cuối năm 2025, nhưng hệ số thanh toán nhanh cuối năm 2025 chỉ đạt 0,73 lần. Điều này cho thấy, quy mô tiền tăng chưa đồng nghĩa với khả năng thanh khoản hoàn toàn vững chắc nếu dự báo dòng thu, tiến độ nghiệm thu và nhu cầu vốn giữa các công trường chưa được hợp nhất kịp thời. Trường hợp tại Hòa Bình cho thấy, sai lệch dòng tiền trở nên nghiêm trọng khi công nợ lớn; Coteccons cần cân bằng giữa dự trữ an toàn và hiệu quả sử dụng tiền; còn Vinaconex phải tách dòng tiền xây lắp với dòng tiền đầu tư để tránh sử dụng nguồn ngắn hạn cho nhu cầu dài hạn.

- Cơ cấu nguồn tài trợ

Cơ cấu giữa vốn chủ sở hữu, vay ngắn hạn, tín dụng thương mại, tạm ứng của khách hàng và các nguồn khác quyết định mức an toàn thanh khoản của doanh nghiệp. Sử dụng vốn ngắn hạn cho phần vốn có thời gian chuyển hóa dài tạo ra chênh lệch kỳ hạn, khiến doanh nghiệp phụ thuộc vào đảo nợ và hạn mức mới. Ngược lại, duy trì quá nhiều nguồn vốn ổn định hoặc tiền nhàn rỗi làm tăng chi phí cơ hội. Tại C BHI, hệ số thanh toán hiện thời duy trì trong khoảng 1,36-1,63 lần giai đoạn 2023-2025, nhưng hệ số thanh toán nhanh giảm còn 0,73 lần vào cuối năm 2025. Cơ cấu này phản ánh doanh nghiệp vẫn duy trì được mức an toàn tổng thể, song một phần đáng kể nguồn vốn ngắn hạn bị gắn với hàng tồn kho và dở dang có thời gian chuyển hóa dài. Trường hợp tại Hòa Bình cho thấy, cơ cấu tài trợ trở nên đặc biệt nhạy cảm khi khoản phải thu lớn và dòng tiền kinh doanh yếu. Coteccons có mức dự trữ thanh khoản tốt hơn nên ít chịu áp lực tái tài trợ, nhưng hiệu quả vốn vẫn phụ thuộc vào việc phân bổ tiền giữa an toàn và tài trợ dự án. Với trường hợp tại Vinaconex, sự kết hợp giữa hoạt động xây dựng và đầu tư làm yêu cầu khớp kỳ hạn nguồn vốn phức tạp hơn.

- Chất lượng thông tin, mức độ số hóa và sự phối hợp giữa các bộ phận

 Quản trị vốn lưu động phụ thuộc vào dữ liệu từ công trường, hợp đồng, pháp lý, mua sắm, kho, kế toán và tài chính. Nếu dữ liệu cập nhật không cùng thời điểm, không dùng chung mã dự án hoặc chưa được tích hợp, doanh nghiệp có thể ghi nhận khối lượng nhưng không biết hồ sơ đã đủ điều kiện thu tiền hay chưa; có thể thấy tồn vật tư nhưng không xác định được vật tư phục vụ hạng mục nào; hoặc dự báo dòng thu không phản ánh thay đổi tiến độ. Mức độ số hóa cao không chỉ giúp tập hợp dữ liệu nhanh hơn mà còn tạo dấu vết kiểm soát, cảnh báo vượt ngân sách và theo dõi trạng thái chuyển hóa của từng khoản vốn. Tại C BHI, sự lệch nhịp giữa công trường và tài chính làm giảm độ tin cậy của kế hoạch vốn hợp nhất. Với Coteccons, Hòa Bình và Vinaconex, số lượng dự án và cấp quản lý lớn làm rủi ro phân mảnh thông tin tăng lên, vì vậy khả năng tích hợp dữ liệu và phối hợp liên phòng ban trở thành một nhân tố nội bộ quan trọng.

4. Tác động tổng hợp và sự khác biệt giữa các doanh nghiệp

Các nhân tố trên không tác động riêng rẽ mà tạo thành chuỗi liên kết. Biến động giá đầu vào làm chi phí thi công tăng; nếu hợp đồng không điều chỉnh kịp, doanh nghiệp phải ứng thêm vốn. Nếu năng lực tổ chức thi công hoặc xử lý hồ sơ hạn chế, phần vốn bổ sung nằm lâu trong vật tư, khối lượng chưa nghiệm thu hoặc chi phí dở dang. Khi chủ đầu tư thanh toán chậm, vốn tiếp tục chuyển sang khoản phải thu và kéo dài thời gian sử dụng nguồn tài trợ. Nếu hạn mức tín dụng bị thu hẹp đúng thời điểm đó, vấn đề hiệu quả vốn có thể nhanh chóng chuyển thành vấn đề thanh khoản. Vì vậy, một cú sốc khách quan thường chỉ tạo ra hậu quả nghiêm trọng khi kết hợp với điểm yếu nội bộ về năng lực đội ngũ, chất lượng hợp đồng, kiểm soát tiến độ, kỷ luật ngân sách, vị thế thương lượng, dự báo dòng tiền, chất lượng dữ liệu hoặc cơ cấu nguồn vốn.

Sự khác biệt giữa các doanh nghiệp chủ yếu nằm ở năng lực ứng phó với biến động. Doanh nghiệp có đội ngũ quản lý tốt, cơ chế kiểm soát rõ ràng, dữ liệu kịp thời và nguồn vốn ổn định có thể duy trì thi công khi một số khoản thu chậm, mặc dù vẫn chịu chi phí cơ hội. Tại C BHI, kết quả tích cực thể hiện ở việc tiền và tương đương tiền tăng lên 50.175 triệu đồng cuối năm 2025, vòng quay hàng tồn kho tăng từ 3,24 lên 5,06 vòng và kỳ thu tiền giảm từ 70,59 ngày năm 2024 xuống 61,02 ngày năm 2025. Tuy nhiên, các hạn chế vẫn khá rõ: phải thu khách hàng cuối năm 2025 đạt 85.169 triệu đồng, hàng tồn kho/dở dang đạt 139.923 triệu đồng, hệ số thanh toán nhanh chỉ còn 0,73 lần và khả năng thanh toán lãi vay giảm còn 1,89 lần. Những số liệu này cho thấy, trọng tâm quản trị cần chuyển từ chỉ mở rộng quy mô và tăng tốc thi công sang kiểm soát chất lượng công nợ, dở dang, dự báo dòng tiền và chi phí tài trợ. Hòa Bình phản ánh khả năng công nợ kéo dài lan truyền sang thanh khoản; Coteccons cho thấy dự trữ tiền tốt vẫn cần đi kèm lựa chọn khách hàng và phân bổ vốn hiệu quả; Vinaconex cho thấy sự kết hợp xây lắp và đầu tư làm yêu cầu về thông tin, dự báo và khớp kỳ hạn nguồn vốn phức tạp hơn.

Điểm chung của các trường hợp là số dư kế toán không đủ để giải thích đầy đủ trạng thái vốn lưu động. Khoản phải thu, vật tư, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và khoản phải trả là các trạng thái hoặc cấu phần của vốn lưu động, không phải nguyên nhân độc lập. Sự gia tăng của từng khoản mục cần được truy về các nhân tố tạo ra nó. Khoản phải thu cần được xem xét theo chủ đầu tư, tuổi nợ, trạng thái hồ sơ, chất lượng hợp đồng và khả năng thanh toán; vật tư và chi phí dở dang cần được phân loại theo tiến độ, nguyên nhân tồn, cơ chế phê duyệt và khả năng nghiệm thu; khoản phải trả cần được gắn với vị thế thương lượng, lịch cung ứng và mức độ phụ thuộc vào đối tác. Khi các khoản mục được phân tích theo nguyên nhân và khả năng chuyển hóa thành tiền, doanh nghiệp mới nhận diện được phần vốn đang phục vụ bình thường cho dự án và phần vốn bị ứ đọng, đồng thời đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố.

5. Khuyến nghị

5.1. Gắn kế hoạch vốn với tiến độ và danh mục dự án

Doanh nghiệp cần tổng hợp lịch chi, lịch thu, mốc nghiệm thu, khoản giữ lại và nghĩa vụ bảo lãnh của từng dự án thành kế hoạch dòng tiền toàn doanh nghiệp. Kế hoạch nên phản ánh cả kịch bản cơ sở và kịch bản chậm nghiệm thu, chậm thanh toán, tăng giá đầu vào hoặc giảm hạn mức tín dụng. Việc đánh giá dự án mới cần đặt trong sức chịu tải vốn của toàn danh mục, bởi một hợp đồng có lợi nhuận dự kiến tốt vẫn có thể làm thanh khoản suy giảm nếu thời điểm cần vốn trùng với cao điểm của các công trình đang thực hiện. Đối với C BHI, trọng tâm là nhận diện thời điểm nhiều công trường đồng thời phát sinh nhu cầu lớn; đối với doanh nghiệp quy mô lớn, cần đánh giá mức tập trung dòng thu theo chủ đầu tư và theo tháng.

5.2. Quản trị hợp đồng, hồ sơ và khoản phải thu theo cùng một chuỗi

Hợp đồng, hồ sơ nghiệm thu và công nợ không nên được quản lý như 3 nội dung tách biệt. Mỗi mốc thanh toán cần có danh mục hồ sơ, thời hạn xác nhận, người phụ trách và trạng thái xử lý. Khoản phải thu cần được phân loại không chỉ theo tuổi nợ mà còn theo nguyên nhân: chưa đủ hồ sơ, đang chờ xác nhận, đã xác nhận nhưng chưa đến hạn, quá hạn do thiếu nguồn thanh toán hoặc có tranh chấp. Cách phân loại này giúp xác định chính xác khoản nào có thể thu bằng biện pháp hành chính, khoản nào cần xử lý kỹ thuật và khoản nào phản ánh rủi ro tín dụng của chủ đầu tư. Với doanh nghiệp có nhiều dự án, việc theo dõi theo trạng thái còn giúp tránh tình trạng số dư công nợ tăng nhưng trách nhiệm thu hồi bị phân tán giữa bộ phận dự án, pháp lý và kế toán.

5.3. Kiểm soát vật tư, dở dang và công nợ phải trả theo khả năng chuyển hóa

Vật tư cần được gắn với tiến độ sử dụng thực tế và điều kiện bảo quản tại từng công trường. Chi phí dở dang cần được tách giữa phần đang luân chuyển bình thường với phần tồn kéo dài do chậm tiến độ, thiếu hồ sơ, phát sinh chưa được phê duyệt hoặc vật tư mua trước nhu cầu. Mỗi khoản dở dang kéo dài cần xác định lần nghiệm thu gần nhất, nguyên nhân và khả năng chuyển thành quyền thu tiền. Đồng thời, lịch thanh toán nhà cung cấp và nhà thầu phụ cần được đối chiếu với dòng thu của dự án để hạn chế chênh lệch kỳ hạn. Quản trị tốt không đồng nghĩa với kéo dài mọi khoản phải trả, bởi việc chậm thanh toán quá mức có thể làm gián đoạn nguồn cung, tăng giá mua và làm tiến độ thi công tiếp tục chậm hơn.

5.4. Bố trí nguồn tài trợ phù hợp với thời gian thu hồi vốn

Phần nhu cầu vốn thường xuyên và các khoản có thời gian thu hồi dài cần được tài trợ bằng nguồn ổn định hơn; nguồn ngắn hạn phù hợp với nhu cầu biến động có dòng tiền hoàn trả tương đối rõ. Khi lựa chọn nguồn vốn, doanh nghiệp cần xem xét tổng chi phí gồm lãi vay, phí bảo lãnh, tài sản bảo đảm, điều kiện giải ngân và rủi ro không được gia hạn, thay vì chỉ so sánh lãi suất danh nghĩa. Tạm ứng của khách hàng và tín dụng thương mại có thể giảm nhu cầu vay nhưng phụ thuộc vào chất lượng hợp đồng và quan hệ với đối tác. Doanh nghiệp có dự trữ tiền lớn cần cân bằng giữa mức an toàn và hiệu quả sử dụng vốn; doanh nghiệp thanh khoản yếu cần ưu tiên giảm chênh lệch kỳ hạn trước khi mở rộng danh mục dự án.

5.5. Nâng cao năng lực quản trị, dự báo và liên thông dữ liệu

Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý tài chính - dự án, đồng thời quy định rõ thẩm quyền phê duyệt, hạn mức cam kết chi và trách nhiệm xử lý các khoản vượt ngân sách hoặc chậm chuyển hóa. Dự báo dòng tiền nên được cập nhật theo tuần hoặc tháng dựa trên dữ liệu thực tế của công trường, thay vì sao chép kế hoạch ban đầu. Các thay đổi về tiến độ, giá vật tư, phát sinh hợp đồng, trạng thái hồ sơ và khả năng thanh toán của chủ đầu tư phải được phản ánh ngay vào dự báo. Hệ thống thông tin cần sử dụng mã dự án thống nhất giữa dự toán, mua sắm, kho, tiến độ, hợp đồng, hóa đơn và công nợ; các cảnh báo về vượt ngân sách, hồ sơ chậm, tồn vật tư hoặc nghĩa vụ thanh toán tập trung cần được chuyển đến đúng cấp có thẩm quyền. Khi năng lực con người, kiểm soát nội bộ và dữ liệu được liên kết, quản trị vốn lưu động trở thành kết quả phối hợp của toàn doanh nghiệp thay vì chỉ là nhiệm vụ của bộ phận tài chính - kế toán.

6. Kết luận

Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp xây dựng chịu tác động đồng thời của tiến độ nghiệm thu, năng lực thanh toán của chủ đầu tư, biến động giá, tín dụng, pháp lý, điều kiện thi công và chu kỳ thị trường. Ở bên trong doanh nghiệp, các nhân tố chủ yếu gồm lựa chọn và cơ cấu danh mục dự án, chất lượng hợp đồng, năng lực tổ chức thi công, năng lực của đội ngũ quản lý, cơ chế phân cấp và kiểm soát nội bộ, vị thế thương lượng với đối tác, năng lực dự báo dòng tiền, cơ cấu nguồn tài trợ, chất lượng thông tin và mức độ số hóa. Khoản phải thu, vật tư, chi phí sản xuất - kinh doanh dở dang và khoản phải trả không phải là các nhân tố ảnh hưởng độc lập; chúng là những cấu phần và kênh biểu hiện kết quả tác động của các nhân tố nêu trên. Tiền được ứng cho thi công, chuyển thành vật tư và khối lượng, tiếp tục chuyển thành hồ sơ, khoản phải thu và cuối cùng mới trở lại thành tiền. Chậm trễ ở bất kỳ khâu nào đều kéo dài chu kỳ vốn và làm tăng nhu cầu tài trợ.

Trường hợp C BHI cho thấy, yêu cầu quan trọng là nhìn vốn lưu động theo danh mục dự án và theo năng lực chuyển hóa vốn, thay vì coi biến động của từng khoản mục kế toán là nguyên nhân tự thân. Hòa Bình phản ánh khả năng công nợ kéo dài chuyển thành áp lực thanh khoản; Coteccons cho thấy dự trữ tiền tốt giúp hấp thụ cú sốc nhưng không loại bỏ yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; Vinaconex cho thấy doanh nghiệp kết hợp xây lắp và đầu tư phải xử lý chu kỳ vốn đa dạng hơn. Nhìn chung, chất lượng quản trị không được quyết định bởi việc giảm tuyệt đối khoản phải thu, vật tư, dở dang hay khoản phải trả, mà bởi năng lực lựa chọn dự án, thiết kế hợp đồng, tổ chức thi công, kiểm soát quyết định, thương lượng với đối tác, dự báo dòng tiền và bố trí nguồn tài trợ phù hợp với thời gian thu hồi vốn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bùi Văn Vần, & Vũ Văn Ninh. (2023). Giáo trình Tài chính doanh nghiệp. Nhà xuất bản Tài chính.

Trần Thị Mỹ Linh. (2026). Quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Xây dựng C BHI (Đề án tốt nghiệp thạc sĩ, Học viện Tài chính).

Công ty Cổ phần Xây dựng C BHI. (2023-2025). Báo cáo tài chính các năm 2023-2025.

Công ty Cổ phần Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình. (2025). Báo cáo thường niên và báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025.

Công ty Cổ phần Xây dựng Coteccons. (2025). Báo cáo thường niên, báo cáo phát triển bền vững và báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025.

Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam - Vinaconex. (2025). Báo cáo thường niên và báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025.

Deloof, M. (2003). Does working capital management affect profitability of Belgian firms? Journal of Business Finance & Accounting, 30(3-4), 573-588. https://doi.org/10.1111/1468-5957.00008

Le, T., Ho, V. N., Le, N. N. A., & Le, Q. M. (2017). The relationship between working capital management and profitability: Evidence in Viet Nam. International Journal of Business and Management, 12(8), 175-181. https://doi.org/10.5539/ijbm.v12n8p175

Vo, T. Q., & Ngo, N. C. (2023). Does working capital management matter? A comparative case between consumer goods firms and construction firms in Vietnam. Cogent Business & Management, 10(3), 2271543. https://doi.org/10.1080/23311975.2023.2

 

Factors affecting working capital management in Vietnamese construction enterprises

 Abstract

This study examines factors affecting working capital management in Vietnamese construction enterprises using literature synthesis, content analysis, and qualitative case studies. The analytical framework identifies seven external factors: acceptance and payment progress, clients’ payment capacity, input-price volatility, credit conditions and interest rates, legal procedures and disbursement, construction conditions and supply-chain disruptions, and construction-market and public-investment cycles. Nine internal factors are also identified, including project portfolio selection, contract quality, construction execution, managerial capability, delegation and internal control, bargaining power, cash-flow forecasting, financing structure, and information quality and digitalization. Case evidence from C BHI, Hoa Binh Construction Group, Coteccons, and Vinaconex shows that effective management depends primarily on the ability to convert construction expenditure into accepted work, receivables, and actual cash inflows. The study emphasizes coordinated management of project progress, legal documentation, contracts, data, and financing.

Keywords: construction enterprises, working capital management, managerial capability, internal control, project cash flow