Một số kiến nghị hoàn thiện khái niệm “thu nhập” trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025
Bài "Một số kiến nghị hoàn thiện khái niệm “thu nhập” trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025" do Phan Thỵ Tường Vi (Khoa Luật, Trường Đại học Văn Lang) thực hiện.
Tóm tắt:
Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đặt ra yêu cầu tiếp tục làm rõ nội hàm của khái niệm “thu nhập” trong chính sách thuế thu nhập cá nhân. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, thông qua phân tích, so sánh các quy định về đối tượng chịu thuế trong các luật thuế có liên quan, kết hợp tham khảo tài liệu khoa học về ngôn ngữ, nhằm làm rõ ý nghĩa và nội hàm của thuật ngữ “thu nhập” cũng như các khái niệm liên quan như thu nhập không chịu thuế và thu nhập được miễn thuế trong Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra một số vấn đề trong việc sử dụng và phân định các thuật ngữ liên quan đến thu nhập, đồng thời đề xuất kiến nghị nhằm bảo đảm cách sử dụng thuật ngữ trong pháp luật thuế rõ ràng, thống nhất và có cơ sở khoa học.
Từ khóa: thu nhập chịu thuế, thuế thu nhập cá nhân
1. Đặt vấn đề
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp là các sắc thuế trực thu, trong đó nghĩa vụ thuế được xác định trực tiếp trên thu nhập của người nộp thuế. Khác với thuế gián thu, thường gắn với hàng hóa và dịch vụ, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập và khả năng tài chính của cá nhân, đồng thời ảnh hưởng đến nguồn lực tài chính của hộ gia đình. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân đòi hỏi các quy định phải cụ thể, rõ ràng và minh bạch, giúp người nộp thuế nhận diện đầy đủ phạm vi nghĩa vụ của mình và chủ động tuân thủ pháp luật. Đây cũng là cơ sở để cơ quan thuế tổ chức thực hiện chính sách thống nhất, nâng cao hiệu quả quản lý và thu thuế.
Thuế thu nhập cá nhân lần đầu được áp dụng tại Việt Nam trên cơ sở Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 27/12/1990 và có hiệu lực từ ngày 01/4/1991. Pháp lệnh này được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần sửa đổi cuối cùng vào năm 2004. Ngày 21/11/2007, Quốc hội khóa XII ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12, đánh dấu bước chuyển từ pháp lệnh sang luật và mở rộng phạm vi các khoản thu nhập chịu thuế. Do sự thay đổi chính sách có tác động rộng đến xã hội, Luật được áp dụng từ ngày 01/01/2009, tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho cơ quan thuế tổ chức thực hiện. Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2012 và 2014. Sau gần 20 năm kể từ khi được ban hành, Luật này được thay thế bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Qua nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay, có thể nhận thấy các quy định về thu nhập chịu thuế chủ yếu được xây dựng theo phương pháp liệt kê các loại, khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật về thuế thu nhập cá nhân chưa đưa ra một khái niệm pháp lý có tính khái quát, thống nhất về “thu nhập” và “thu nhập chịu thuế”, cũng như chưa làm rõ đầy đủ các đặc trưng pháp lý của đối tượng chịu thuế. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, làm rõ nội hàm của khái niệm “thu nhập chịu thuế” trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích các vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến khái niệm thu nhập, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của bài viết là làm sáng tỏ về mặt ngữ nghĩa và nội dung của thuật ngữ “thu nhập” và những đối tượng khác có liên quan đến thu nhập trong đạo Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, nên tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng việc tham khảo cơ sở ngôn ngữ học để làm rõ nội hàm của thuật ngữ này; bên cạnh đó tác giả kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh giữa cách thức quy định về cùng đối tượng nghiên cứu như là: đối tượng không chịu thuế, miễn thuế được quy định trong các đạo luật thuế khác của hệ thống thuế Việt Nam, so với Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 để đưa ra kết luận là cần hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp đối với việc ban hành chính sách thuế thu nhập cá nhân sao cho đồng bộ trong toàn nội dung cấu trúc đạo luật thuế của hệ thống thuế Việt Nam.
3. Một số bất cập liên quan đến nội hàm của thuật ngữ “thu nhập” trong đạo Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành
Theo định nghĩa về thuế tại khoản 1 Điều 4 của Luật Quản lý thuế 2025 như sau: “thuế là một khoản phải nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân, cá nhân kinh doanh theo quy định của các luật thuế”. Đây là một khái niệm pháp lý ngắn gọn về thuế, tuy nhiên để hiểu đúng về thuế không đơn giản. Bởi vì thuế không được hiểu đơn thuần chỉ là số tiền mà người có nghĩa vụ thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của từng đạo luật thuế mà để có số tiền thuế cụ thể của mỗi loại thuế thì các chủ thể cần phải xác định được tư cách pháp lý của mình có là người nộp thuế hay không theo quy định trong từng đạo luật thuế. Khi một chủ thể mang tư cách là người nộp thuế sẽ làm phát sinh nghĩa vụ thuế của họ đối với nhà nước trong một quan hệ pháp luật thuế cụ thể. Cho đến tận bây giờ thông qua quá trình nghiên cứu dưới góc độ học thuật có thể khẳng định cơ sở làm phát sinh tư cách pháp lý người nộp thuế trong các đạo luật thuế quy định là khi chủ thế đó đáp ứng đầy đủ các yếu tố sau đây: (i) chủ thể thực hiện hành vi pháp lý theo đạo luật thuế quy định và (ii) hành vi pháp lý đó tác động lên đối tượng chịu thuế trong đạo luật thuế quy định1.
Như vậy, 1 trong 2 căn cứ rất quan trọng để xác lập tư cách pháp lý của người nộp thuế là liên quan đến nội hàm về đối tượng chịu thuế trong mỗi loại thuế. Dưới góc độ học thuật thì đối tượng chịu thuế được hiểu là “vật” mang hình ảnh là hàng hóa, dịch vụ, tài sản, thu nhập hoặc những lợi ích vật chất khác mà sắc thuế tác động đến để phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế2. Đó là một trong những nội dung cấu thành nên một sắc thuế, vì thế luôn phải dành một điều luật trong mỗi đạo luật thuế để quy định về đối tượng chịu thuế. Việc xác lập đối tượng chịu thuế trong từng đạo luật thuế thể hiện phạm vi của một chính sách thuế tác động rộng hay hẹp lên xã hội. Đối với nhóm thuế thu nhập vì đối tượng chịu thuế là thu nhập nên về hình thức trình bày trong đạo luật thuế nhà nước dùng thuật ngữ “thu nhập chịu thuế” thay cho cụm từ “đối tượng chịu thuế” được sử dụng trong các văn bản luật thuế của nhóm thuế có đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ hay tài sản quốc gia.
Tuy nhiên, trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 lại vướng một số bất cập xoay quanh việc chưa làm sáng tỏ về mặt ngữ nghĩa và nội dung liên quan đến thu nhập là đối tượng chịu thuế của sắc thuế này. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, sắc thuế thu nhập cá nhân chưa xác lập khái niệm pháp lý về thu nhập chịu thuế
Tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, với phương pháp liệt kê nhà nước đã xác lập có 10 nguồn thu nhập là thu nhập chịu thuế của thuế thu nhập cá nhân. “Thu nhập” là một từ ngữ phổ thông không mang nghĩa chuyên môn của một lĩnh vực khoa học nào. Nhưng không vì thế mà người dân hiểu đúng về thuật ngữ này dưới giác độ thuế. Với kinh nghiệm trong công tác giảng dạy chuyên môn cũng như làm tư vấn thực tiễn thì tác giả nhận thấy, phần nhiều người dân luôn cho rằng thu nhập chịu thuế là các khoản tiền. Như vậy, có sự đồng nhất giữa 2 khái niệm “thu nhập” với “tiền” theo cách hiểu thông thường của người dân. Đây là sự nhầm lẫn của người dân vì lý do nào đó không thể phân biệt được giữa hai từ ngữ “thu nhập” với “tiền” thì Nhà nước cần phải định nghĩa về “thu nhập” bằng một điều khoản trong đạo Luật Thuế thu nhập cá nhân để người dân hiểu đúng đắn về thu nhập là gì, không nên hiểu một cách hạn hẹp cho rằng thu nhập là khoản tiền. Trong Từ điển Tiếng Việt có định nghĩa “thu nhập” với hai ngữ nghĩa như sau: (i) là động từ thì thu nhập là nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt đông nào đó, (ii) nghĩa danh từ là các khoản thu nhập được trong một khoản thời gian nhất định, thường tính theo tháng, năm3. Bên cạnh đó, cũng có nhiều khái niệm khác nhau về thu nhập, nhưng tựu trung lại thu nhập được xác định bởi các yếu tố: (i) lợi ích biểu hiện dưới dạng giá trị hoặc các quyền lợi vật chất, (ii) khoảng thời gian được xác định mức độ thu nhận lợi ích, (iii) gắn liền với một chủ thể nhất định4. Như vậy, thu nhập trở thành đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập cá nhân là những giá trị lợi ích vật chất mà một cá nhân bằng những hoạt động hợp pháp có được mà theo ý chí của nhà nước muốn áp thuế lên những nguồn thu nhập đó.
Thứ hai, việc xác lập thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh chưa chuẩn xác
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 20255 thì có 4 trường hợp phát sinh thu nhập được xác lập là thu nhập từ kinh doanh. Tuy nhiên, theo tác giả cần phải xem lại việc xác lập thu nhập trong quy định hiện hành có đúng là thu nhập từ kinh doanh hay không vì những lý do như sau:
- Một là, Theo khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, số 59/2020/QH14 định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Còn trong Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học (chủ biên GS. Hoàng Phê) thì các từ ngữ sau đây được định nghĩa như sau6:
- Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi
- Lợi nhuận: khoản tiền chênh lệch do thu vượt chi sau một quá trình sản xuất, kinh doanh
Qua 2 cách diễn giải về từ “kinh doanh” dưới góc độ của từ ngữ phổ thông trong Từ điển Tiếng Việt và dưới góc độ khái niệm pháp lý trong một văn bản luật chung là Luật Doanh nghiệp 2020, đều cho thấy, hoạt động kinh doanh cho dù là thực hiện một hay nhiều hành vi đều là hướng đến mục đích cốt lõi là tìm kiếm lợi nhuận. Trong khi đó những hoạt động mang tính chất hành nghề độc lập của cá nhân không phải với mục đích tìm kiếm lợi nhuận mà trước hết là để có nguồn thu nuôi sống bản thân họ bằng việc tự thân lao động. Cá nhân đó không tham gia vào một quan hệ pháp luật bị ràng buộc theo quy định của pháp luật lao động nhưng thực chất khi một cá nhân hành nghề độc lập có nghĩa là họ phải tham gia vào một quan hệ mà trong đó bên kia là tổ chức, hộ gia đình hay cá nhân khác sử dụng sức lao động của họ và kết quả của quá trình này tạo ra nguồn thu cho chính bản thân cá nhân hành nghề độc lập. Nguồn thu nhập này chính là thù lao mà họ có được từ thành quả lao động của mình bằng việc cung cấp hay thỏa mãn theo yêu cầu về công việc của một người khác.
Tiếp đến việc xác định thu nhập từ hành nghề độc lập của cá nhân có phải là thu nhập từ kinh doanh hay không, tác giả nhận thấy, cần xác định có phát sinh lợi nhuận từ công việc mà cá nhân đó đang thực hiện theo yêu cầu. Khác với hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ có thể xác định được phần vốn hay chi phi phải bỏ ra để tạo ra thu nhập, trong khi đối với hành nghề độc lập của một cá nhân không nhất thiết phải bỏ ra chi phí vật chất mà nguồn lực để hành nghề độc lập của một cá nhân có khi dựa vào giá trị nhân thân, như: uy tín, trình độ chuyên môn, mối quan hệ... những yếu tố tác động đến kết quả hành nghề độc lập của một cá nhân. Thậm chí những giá trị phi vật chất này là phần vốn không dễ dàng định lượng được và có khi kết quả thù lao mà cá nhân hành nghề độc lập có được lại ít hơn so với những giá trị nhân thân hay công sức lao động mà cá nhân đó phải bỏ ra để tìm kiếm thu nhập nuôi sống mình. Vì vậy, tác giả nhận thấy, xác định thu nhập từ hành nghề độc lập của một cá nhân là một trong những nguồn thu nhập từ kinh doanh là không chuẩn xác.
- Hai là, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 quy định “Hoạt động thương mại điện tử là hoạt động thương mại được tiến hành một phần hoặc toàn bộ trên môi trường điện tử.” Tại khoản 5 Điều 3 Luật Chuyển đổi số, số 148/2025/QH15 quy định “Nền tảng số là hệ thống thông tin nhằm tạo môi trường số cho phép các bên thực hiện giao dịch hoặc cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc sử dụng để phát triển sản phẩm, dịch vụ”. Qua 2 khái niệm pháp lý vừa nêu, tác giả nhận thấy hoạt động kinh doanh thương mại điện tử hay kinh doanh dựa trên nền tảng số thực chất vẫn là hoạt động kinh doanh thương mại hàng hóa, dịch vụ. Đây chỉ là một phương thức kinh doanh mới dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật thông qua môi trường trung gian là không gian mạng, khác với cách thức kinh doanh truyền thống là mối quan hệ trực tiếp giữa nhà kinh doanh với khách hàng.
- Ba là, liên quan đến cách thức xác định tiền thuế phải nộp của thu nhập từ kinh doanh có căn cứ dựa vào doanh thu của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, đối với cá nhân cư trú căn cứ đế tính thuế thu nhập cá nhân tại khoản 2 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 không nêu ra định nghĩa doanh thu là gì, trong khi đó đối với cá nhân không cư trú tại khoản 2 Điều 20 của Luật có định nghĩa như sau: “Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền, bao gồm cả chi phí do bên mua hàng hoá, dịch vụ trả thay cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả. Trường hợp thỏa thuận hợp đồng không bao gồm thuế thu nhập cá nhân thì doanh thu tính thuế phải quy đổi là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được dưới bất kỳ hình thức nào từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành các hoạt động kinh doanh”.
Thứ ba, cần xác định lại thu nhập từ “tiền bản quyền”
Thu nhập chịu thuế tại khoản 7 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 là “Thu nhập từ tiền bản quyền”; tác giả cho rằng, nội dung quy định về thu nhập chịu thuế tại điều khoản này không tương thích với phạm vi của pháp luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Pháp luật về sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực chuyên ngành cho nên việc xác lập các đối tượng liên quan đến sở hữu trí tuệ trước hết phải căn cứ vào nội dung quy định của đạo luật chuyên ngành. Cụ thể, tiền bản quyền được quy định tại tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2023, “Tiền bản quyền là khoản tiền trả cho việc sáng tạo hoặc chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả tiền nhuận bút, tiền thù lao”. Như vậy tiền bản quyền được xác lập liên quan đến quyền tác giả, còn quyền tác giả lại là 1 trong 3 đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010, như sau:
“1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật Chuyển giao công nghệ 2017, số 07/2017/QH14 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2026 thì “Chuyển giao công nghệ là hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới”. Với định nghĩa tại điều khoản này, thu nhập từ chuyển giao công nghệ không liên quan gì đến tiền bản quyền.
Thứ tư, chưa phân định rõ giữa “đối tượng không chịu thuế” với “miễn thuế” trong đạo luật thuế thu nhập cá nhân
Như phần trình bày phía trên, tác giả có nêu ra điểm hạn chế trong nội dung của một loạt các đạo luật thuế là không có điều khoản “Giải thích từ ngữ’ nên việc hiểu đúng thế nào là “đối tượng không chịu thuế’ với “miễn thuế” vẫn luôn là nội dung còn gây nhiều tranh luận giữa các chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý với kế toán-kiểm toán, giữa thực tiễn thực thi chính sách thuế với cơ sở lý luận về thuế. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật Quản lý thuế 20257 nhà nước sử dụng từ ngữ “miễn thuế” và “không chịu thuế”, điều đó được hiểu là nhà nước phân biệt về nội hàm hai thuật ngữ này là khác nhau8.
Dưới góc độ nghiên cứu luật học, miễn thuế là những trường hợp có phát sinh nghĩa vụ thuế với Nhà nước và xác định được số tiền thuế phải nộp nhưng vì lý do nào đó theo ý chí của Nhà nước (thường thì mang ý nghĩa ưu đãi của Nhà nước dành cho người nộp thuế) mà Nhà nước không thu tiền thuế. Xét về khía cạnh ngữ nghĩa của thuật ngữ “miễn thuế” cũng hiểu được rõ ràng là có tiền thuế phát sinh phải nộp nhưng Nhà nước miễn - không thu. Trong khi đó, nội hàm của thuật ngữ “đối tượng không chịu thuế” là hàng hóa, dịch vụ, tài sản hay thu nhập mà Nhà nước xác lập là không chịu sự áp thuế của một sắc thuế, qua đó thì các tổ chức, cá nhân có hành vi tác động đến các đối tượng này không làm phát sinh nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Như vậy, theo nghĩa hẹp thì đối tượng không chịu thuế cũng chính là các hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hay tài sản có các điều kiện, đặc tính tương tự như đối tượng chịu thuế của một sắc thuế nhưng chỉ khác là nhà nước không áp thuế lên các vật đó9. Còn hiểu theo phạm vi rộng thì đối tượng không chịu thuế sẽ là toàn bộ những vật không được/bị xác định cụ thể trong điều khoản “đối tượng chịu thuế”. Vì vậy, khi tìm hiểu nội dung các sắc thuế trong nhóm thuế thu vào hàng hóa, dịch vụ hay nhóm thuế thu vào tài sản quốc gia, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân dễ dàng nhận ra được đâu là vật bị áp thuế, đâu là vật không bị áp thuế thông qua nội dung của hai điều khoản quy định về đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế. Ví dụ như trong từng đạo luật thuế sau đây thì đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế lần lượt được quy định tại các điều khoản cụ thể là:
- Điều 3 và Điều 4 Luật Thuế bảo vệ môi trường 2010;
- Điều 2 và Điều 3 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2025;
- Điều 3 và Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024;
- Điều 2 và Điều 3 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010
Tuy nhiên, không thấy cách thức quy định tương tự này trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và các phiên bản luật cũ của thuế thu nhập cá nhân; mà lại thấy sau điều khoản “Thu nhập chịu thuế” tại Điều 3 là Điều 4 quy định “Thu nhập được miễn thuế”. Với cách sử dụng thuật ngữ tại tiêu đề của Điều 4 có sự không tương thích với nội dung cụ thể trong chính điều luật này, cụ thể là:
- Một là, trong Điều 4 liệt kê các nguồn thu nhập được miễn thuế chính là những trường hợp cụ thể từ nguồn thu nhập chịu thuế tại Điều 3, ví dụ như tại Khoản 1 Điều 4 quy định nguồn thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản được miễn thuế là do phát sinh giữa những đối tượng chủ thể có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống hoặc Khoản 8 Điều 4 quy định những trường hợp thu nhập từ tiền lương của những ngày không nghỉ phép. Thực chất đây vẫn là nguồn thu nhập chịu thuế theo quy định tại Khoản 2 là thu nhập từ tiền lương, tiền công; Khoản 5 là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và thu nhập chịu thuế từ nhận thừa kế, quà tặng tại Khoản 9 của Điều 3. Như vậy, cá nhân khi có phát sinh những nguồn thu nhập như trong trường hợp tại Khoản 1 Điều 4 sẽ hiểu thế nào cho đúng bản chất pháp lý là họ có trở thành người nộp thuế trong quan hệ pháp Luật Thuế thu nhập cá nhân nhưng nhà nước không tính ra tiền thuế để thu từ những nguồn thu nhập này hay là không liên quan đến nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân với nhà nước;
- Hai là, một số nguồn thu nhập không được liệt kê trong Điều 3 như: (i) thu nhập từ học bổng; (ii) thu nhập từ nhận bồi thường của bảo hiểm, tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật; (iii) thu nhập từ nguồn viện trợ theo pháp luật quy định thì mặc định đó là những đối tượng không chịu thuế của thuế thu nhập cá nhân. Vậy nhưng những nguồn thu nhập lại được quy định lần lượt tại Khoản 10, 11, 12, 13 của Điều 4.
Ngoài ra, với cách diễn đạt tại Điểm c Khoản 2 Điều 3 “...trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo ưu đãi...” thì đó chính là những nguồn thu nhập được xác định là đối tượng không chịu thuế của thuế thu nhập cá nhân. Nhưng những nguồn thu nhập này lại không bị/ được đưa vào trong quy định thu nhập được miễn thuế tại Điều 4.
Trong khi đó, lại có thêm Điều 5 quy định: “Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế khác” nhưng nội dung quy định tại Khoản 3, 4 Điều 5 chẳng qua là thêm trường hợp cụ thể của nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công tại Khoản 2 và là một trường hợp cụ thể của thu nhập từ đầu tư vốn tại Khoản 3 của Điều 3 mà Nhà nước không thu thuế từ nguồn thu nhập này. Như vậy, quy định tại 2 khoản này của Điều 5 tại sao nhà lập pháp không đưa vào nội dung trong Điều 4?
4. Một số kiến nghị nhằm khắc phục bất cập
Với những lập luận trên đây về việc phân tích một số bất cập xoay quanh thuật ngữ “thu nhập” chưa được nhà làm luật xác lập rõ ràng, chuẩn xác trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần phải có khái niệm pháp lý về “thu nhập chịu thuế”
Tác giả cho rằng, việc quy định khái niệm pháp lý về “thu nhập chịu thuế” là sự cần thiết mà Nhà nước cần định nghĩa ngay trong đạo luật thuế thu nhập cá nhân. Việc xác lập khái niệm pháp lý về thu nhập chịu thuế sẽ giúp người dân hiều đúng đắn cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân của mình với Nhà nước. Người dân sẽ hiểu đúng về thu nhập chịu thuế không chỉ là khoản tiền tệ có được mà còn là những khoản giá trị vật chất thể hiện dưới hình ảnh là động sản, bất động sản quy ra được thành tiền tệ thì đó cũng là các nguồn thu nhập chịu thuế theo đạo luật thuế quy định.
Bên cạnh đó, một trong những biểu hiện của sự phát triển trình độ lập pháp của nhà làm luật Việt Nam là hầu hết các đạo luật được ban hành trong hơn 20 năm qua đều có một điều khoản là “Giải thích từ ngữ”. Điều khoản này được quy định ngay trong Chương I của các văn bản luật. Đây không chỉ đơn giản mang tính chất kỹ thuật lập pháp mà là sự biểu thị ý chí của Nhà nước về những đối tượng được điều chỉnh bằng pháp luật, còn gọi là khái niệm pháp lý. Với các khái niệm pháp lý được ban hành giúp cho người dân không còn hiểu tùy tiện theo đời sống thường nhật mà phải hiểu đúng về một hoặc nhiều đối tượng theo tinh thần luật định. Từ đó, góp phần giúp các mối quan hệ pháp luật diễn ra trong khuôn khổ pháp lý quy định. Tuy nhiên, cho đến nay, trong lĩnh vực pháp luật thuế, điều khoản “Giải thích từ ngữ” chỉ xuất hiện tại Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 và Điều 2 Luật Thuế bảo vệ môi trường 2010. Tác giả cho rằng, đây là sự thiếu sót trong quy trình lập pháp khi mà Quốc hội không ban hành những khái niệm pháp lý liên quan đến các yếu tố cấu thành của một loạt các sắc thuế trong văn bản luật. Vì vậy, không riêng đối với thuế thu nhập cá nhân mà những sắc thuế khác, tác giả kiến nghị các nhà lập pháp nên nghiên cứu ban hành một điều khoản “Giải thích từ ngữ” để diễn giải về các đối tượng liên quan đến các yếu tố cấu thành của sắc thuế, từ đó giúp người dân hiểu rõ, đúng chính sách thuế. Còn riêng đối với sắc thuế thu nhập cá nhân, theo tác giả nhà nước cần thiết phải xác lập một điều khoản định nghĩa về “thu nhập chịu thuế” có thể với nội dung như sau: “Thu nhập chịu thuế là tiền, vật hoặc giá trị lợi ích có thể quy đổi thành tiền mà cá nhân nhận được từ một hoặc nhiều cách thức hợp pháp”.
Thứ hai, cần phải xác lập lại thế nào là thu nhập từ kinh doanh
- Một là, việc xác định thu nhập từ hành nghề độc lập của một cá nhân là một trong những nguồn thu nhập từ kinh doanh là không chuẩn xác. Đây là nguồn thu nhập chịu thuế mang tính chất tiền công hay là thù lao. Vì vậy, nhà làm luật nên xem xét xác lập thu nhập từ hành nghề độc lập vào chung nhóm thu nhập từ tiền công, tiền lương.
- Hai là, không nhất thiết phải tách thành 2 nguồn thu nhập như quy định hiện nay tại điểm a) và d) khoản 1 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 mà nên gom lại với câu chữ trình bày ngắn gọn: “thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm thu nhập từ hoạt động thương mại điện tử và kinh doanh dựa trên nền tảng số”.
- Ba là, nhà làm luật cần xác lập khái niệm doanh thu là gì ngay tại một điều khoản trong điều luật “Giải thích từ ngữ”, cụ thể: “Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền, bao gồm cả chi phí do bên mua hàng hóa, dịch vụ trả thay cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả. Trường hợp thỏa thuận hợp đồng không bao gồm thuế thu nhập cá nhân thì doanh thu tính thuế phải quy đổi là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được dưới bất kỳ hình thức nào từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành các hoạt động kinh doanh”, qua đó thống nhất cách hiểu đúng về doanh thu làm căn cứ tính thuế của thu nhập từ kinh doanh cho cả trường hợp là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú.
Thứ ba, sửa lại điều khoản xác lập thu nhập từ bản quyền
Trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định tại khoản 7 Điều 3 về thu nhập từ tiền bản quyền bao gồm luôn các đối tượng sở hữu trí tuệ khác và chuyển giao công nghệ là không chuẩn xác. Theo tác giả, cần phải viết lại khoản 7 Điều 3 trong đạo luật thuế như sau: “Thu nhập từ hoạt động chuyển giao các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, bao gồm...”.
Thứ tư, xác lập chuẩn xác về thu nhập không chịu thuế thay cho thu nhập miễn thuế như hiện nay trong đạo luật thuế
Với những phân tích trên đây, theo tác giả có sự chưa rõ ràng về câu chữ dẫn đến không thể hiện đúng bản chất pháp lý của yếu tố cấu thành trong đạo Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, cụ thể là việc xác lập phạm vi những nguồn thu nhập không chịu thuế trong sắc thuế thu nhập cá nhân. Nhà lập pháp cần xem xét lại cách dùng thuật ngữ cho chuẩn xác để tương thích với nội dung bên trong tại Điều 4 cũng như Điều 5 trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, có nghĩa là nên có điều khoản quy định rõ đối tượng không chịu thuế như trong nội dung của các sắc thuế khác, cụ thể là nên đổi thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” thành “thu nhập không chịu thuế”.
5. Kết luận và kiến nghị
Thuế thu nhập cá nhân có vai trò quan trọng đối với nguồn thu ngân sách nhà nước, nhưng cũng là sắc thuế đem đến gánh nặng tài chính đối với người dân, từ đó tạo ra áp lực lên cuộc sống của họ. Vì vậy, việc xác lập phạm vi tác động của chính sách thuế này lên xã hội thông qua việc xác định đâu là thu nhập chịu thuế và thế nào là thu nhập không chịu thuế rất cần thiết để giúp người dân hiểu đúng về chính sách thuế này. Ngoài ra, trong hệ thống văn bản luật, có thể khẳng định các đạo luật thuế luôn có nội dung ngắn gọn hơn rất nhiều so với các văn bản luật khác. Mỗi đạo luật thuế được ban hành làm cơ sở pháp lý cho sự ra đời của một loại thuế và từ đó làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế của công dân với Nhà nước.
Thuế mang tính phổ quát hơn nhiều so với một số lĩnh vực pháp luật có tính chất chuyên môn, bởi thuế ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và đó chính là một trong những biểu tượng thể hiện mối gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước với người dân. Cho nên, ngay khi trình độ nhận thức của loài người còn hạn chế thì người dân vốn dĩ vẫn biết về pháp luật thuế rõ hơn so với những lĩnh vực pháp luật khác. Vì vậy, trình độ lập pháp của một nhà nước tiến bộ chính là sự chỉn chu trong từng câu chữ của nội dung văn bản luật nói chung và đạo luật thuế nói riêng để người dân dễ hiểu và hiểu đúng được chính sách thuế của Nhà nước. Tác giả nhận thấy, nhà làm luật Việt Nam nên rà soát lại cách thức dùng từ ngữ để quy định rõ nghĩa hơn về những nội dung liên quan đến khái niệm thu nhập trong đạo luật thuế thu nhập cá nhân. Tác giả kiến nghị với nhà lập pháp Việt Nam: (i) cần thiết nghiên cứu để ban hành một điều khoản “Giải thích từ ngữ” để xác lập các khái niệm pháp lý liên quan đến thu nhập chịu thuế và các yếu tố cấu thành của sắc thuế này, (ii) cần thiết làm sáng tỏ từ ngữ sử dụng để đặt cho tiêu đề của điều luật thuế liên quan đến việc xác lập thế nào là thu nhập không chịu thuế và những trường hợp miễn thuế trong đạo Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
- Trong phạm vi bài viết này, tác giả xác định tư cách người nộp thuế theo phạm vi hẹp, là tư cách đó được xác lập trong nội dung của mỗi đạo luật thuế, mà không dựa vào quy định về người nộp thuế theo nghĩa rộng như tại Khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý thuế 2025 quy định.
- Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2026, tr. 57
- Hoàng Phê, 2026, tr. 1213
- Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2026, tr. 283.
- Tại khoản 1 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định: thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật;
c) Thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh với tổ chức;
d) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nên tảng số
- Hoàng Phê, 2026, tr. 668; tr. 742
- Xem Khoản 1,2 và 4 Điều 19 Luật Quản lý thuế 2025
- Trong Luật Quản lý thuế 2025 có Điều 4 “Giải thích từ ngữ” với một loạt các khái niệm pháp lý được ban hành nhưng vẫn không có định nghĩa về các yếu tố cấu thành của một đạo luật thuế.
- Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2026, tr. 62.
Tài liệu tham khảo:
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. (2026). Giáo trình Luật Thuế (tái bản lần thứ bảy, có sửa đổi, bổ sung). NXB CAND,
Hoàng Phê (chủ biên). (2026). Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt. NXB Hồng Đức.
Hội đồng Nhà nước. (1990). Pháp lệnh số 50-LCT/HĐNN8: Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, ban hành ngày 27/12/1990.
Quốc hội. (2005). Luật số 50/2005/QH11: Luật Sở hữu trí tuệ, ban hành ngày 29/11/2005.
Quốc hội. (2007). Luật số 04/2007/QH12: Luật Thuế thu nhập cá nhân, ban hành ngày 21/11/2007.
Quốc hội. (2009). Luật số 45/2009/QH12: Luật Thuế tài nguyên, ban hành ngày 25/11/2009.
Quốc hội. (2010). Luật số 48/2010/QH12: Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ban hành ngày 17/06/2010.
Quốc hội. (2010). Luật số 57/2010/QH12: Luật Thuế bảo vệ môi trường, ban hành ngày 15/11/2010.
Quốc hội. (2016). Luật số 107/2016/QH13: Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, ban hành ngày 6/4/2016.
Quốc hội. (2017). Luật số 07/2017/QH14: Luật Chuyển giao công nghệ, ban hành ngày 19/6/2017 và văn bản sửa đổi, bổ sung.
Quốc hội. (2020). Luật số 59/2020/QH14: Luật Doanh nghiệp, ban hành ngày 17/6/2020
Quốc hội. (2024). Luật số 48/2024/QH15: Luật Thuế giá trị gia tăng, ban hành ngày 26/11/2024.
Quốc hội. (2025). Luật số 108/2025/QH15: Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 10/12/2025.
Quốc hội. (2025). Luật số 109/2025/QH15: Luật Thuế thu nhập cá nhân, ban hành ngày 10/12/2025.
Quốc hội. (2025). Luật số 122/2025/QH15: Luật Thương mại điện tử, ban hành ngày 10/12/2025
Quốc hội. (2025). Luật số 131/2025/QH15: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, ban hành ngày 10/12/2025.
Quốc hội. (2025). Luật số 148/2025/QH15: Luật Chuyển đổi số, ban hành ngày 11/12/2025
Quốc hội. (2025). Luật số 66/2025/QH15: Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, ban hành ngày 14/06/2025.
Quốc hội. (2025). Luật số 67/2025/QH15: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, ban hành ngày 14/6/2025.
Quốc hội. (2025). Luật số: 115/2025/QH15: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, ban hành ngày 10/12/2025.
Recommendations for improving the concept of “income” under the 2025 Law on Personal Income Tax
Abstract:
The 2025 Law on Personal Income Tax No. 109/2025/QH15, effective from July 1, 2026, raises the need to further clarify the concept of “income” in personal income tax policy. Using qualitative methods, this study analyzes and compares taxable objects under relevant tax laws and draws on linguistic scholarship to clarify the meaning and legal scope of “income.” Particular attention is given to related concepts such as taxable income, non-taxable income, and tax-exempt income. The analysis identifies several inconsistencies and ambiguities in the use and classification of income-related terminology under the current law. The study therefore recommends revising and standardizing relevant legal concepts to ensure that personal income tax legislation is clearer, more coherent, internally consistent, and grounded in a sound scientific basis.
Keywords: taxable income, personal income tax
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 23 năm 2026]