Lợi ích kinh tế trong hợp tác xuyên biên giới Việt Nam - Campuchia từ tiềm năng kết nối cửa khẩu: Nghiên cứu trường hợp Đồng Tháp - Prey Veng
Bài viết Lợi ích kinh tế trong hợp tác xuyên biên giới Việt Nam - Campuchia từ tiềm năng kết nối cửa khẩu: Nghiên cứu trường hợp Đồng Tháp - Prey Veng do Nguyễn Thị Tú Trinh (Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp) thực hiện.
Tóm tắt:
Bài viết phân tích cơ chế chuyển hóa tiềm năng kết nối của 2 cặp cửa khẩu quốc tế Dinh Bà - Banteay Chakrey và Thường Phước - Kaoh Roka thành lợi ích kinh tế trong hợp tác giữa Đồng Tháp và Prey Veng. Trên cơ sở tiếp cận kinh tế chính trị và phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp, nghiên cứu làm rõ các kênh tạo lập lợi ích, những điều kiện bảo đảm và vai trò của chính quyền địa phương. Kết quả cho thấy, hiệu quả hợp tác không chỉ được đo bằng kim ngạch thương mại mà còn ở khả năng giảm chi phí giao dịch, phát triển chuỗi giá trị và bảo đảm lợi ích thiết thực cho cộng đồng biên giới.
Từ khóa: lợi ích kinh tế, thương mại biên giới, cửa khẩu quốc tế, hợp tác xuyên biên giới, Đồng Tháp, Prey Veng.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, không gian vùng biên không còn bị giới hạn ở chức năng quản lý lãnh thổ hành chính, mà đã chuyển thành hành lang kết nối thị trường, chu chuyển dòng hàng và phân công lao động xuyên quốc gia. Mặc dù vậy, việc sở hữu đường biên chung hay sự hình thành của các cửa khẩu quốc tế chưa phải là yếu tố đủ để bảo đảm thành công cho hợp tác kinh tế. Khả năng chuyển hóa lợi thế vị trí thành các giá trị kinh tế thặng dư phụ thuộc vào đồng bộ hạ tầng, mức độ tối ưu chi phí logistics, quy mô lực lượng thị trường và năng lực phối hợp điều hành của chính quyền 2 bên.
Đồng Tháp và Prey Veng hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi để đẩy mạnh giao lưu kinh tế nhờ địa giới liền kề và truyền thống trao đổi hàng hóa lâu đời. Trong đó, 2 trục kết nối trọng điểm là cặp cửa khẩu quốc tế Dinh Bà - Banteay Chakrey và Thường Phước - Kaoh Roka. Sự kiện chính thức đưa vào vận hành mô hình cửa khẩu quốc tế kết hợp đường bộ và đường sông Thường Phước - Kaoh Roka vào ngày 17/01/2025 đã mở ra dư địa mới cho phương thức vận tải đa phương thức xuyên biên giới. Thực tế giao thương thời gian qua khẳng định hợp tác kinh tế giữa 2 địa phương đã xây dựng được quy mô tương đối lớn.
Vấn đề cốt lõi cần giải quyết không dừng lại ở lượng hàng hóa lưu thông qua cửa khẩu, mà nằm ở câu hỏi: Tiềm năng kết nối hạ tầng được chuyển đổi thành lợi ích kinh tế bằng những cơ chế nào? Đối tượng nào thực sự được thụ hưởng và những điều kiện nào chi phối hiệu quả của quá trình này? Tìm lời giải cho vấn đề này có giá trị thực tiễn trực tiếp đối với Đồng Tháp, đồng thời gợi mở phương pháp tiếp cận cho các tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia.
Trong tổng quan nghiên cứu, các công trình đi trước đã tiếp cận thương mại song phương dưới góc độ phát triển kinh tế và mạng lưới thị trường biên giới. Chẳng hạn, Burova (2018) đánh giá đóng góp của thương mại song phương đối với tăng trưởng kinh tế, trong khi Mahanty (2019) tập trung mô tả quá trình định hình thị trường biên giới và sự đan xen của các quan hệ kinh tế địa phương. Các nghiên cứu này thống nhất dòng chảy thương mại chịu tác động đồng thời của quy luật cung - cầu lẫn mạng lưới chủ thể và thể chế quản lý. Tuy nhiên, việc liên kết giữa tiềm năng cửa khẩu, cơ chế sinh lợi và các điều kiện thực thi ở quy mô cấp tỉnh vẫn chưa được làm rõ đầy đủ.
Bài viết tập trung tìm câu trả lời cho câu hỏi: Những cơ chế nào giúp chuyển hóa tiềm năng kết nối của 2 cặp cửa khẩu quốc tế Dinh Bà - Banteay Chakrey và Thường Phước - Kaoh Roka thành giá trị kinh tế thực tế trong hợp tác Đồng Tháp - Prey Veng, và yếu tố nào đóng vai trò quyết định mức độ hiện thực hóa các lợi ích đó? Bài viết sẽ tập trung làm sáng tỏ các kênh tạo lợi ích, các rào cản ảnh hưởng đến quá trình hiện thực hóa lợi ích và vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương.
Đóng góp mới của bài viết nằm ở việc tích hợp 3 khía cạnh: (i) tiềm năng kết nối cửa khẩu; (ii) các kênh chuyển hóa lợi ích; và (iii) điều kiện thể chế thực thi. Lợi ích kinh tế được nhìn nhận toàn diện qua các chỉ số: chi phí giao dịch, mức độ kết nối chuỗi giá trị sản xuất, phần giá trị gia tăng giữ lại tại địa phương và mức độ thụ hưởng của cộng đồng cư dân biên giới.
2. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết kinh tế chính trị để giải thích sự hình thành lợi ích kinh tế xuyên biên giới thông qua sự tương tác giữa quy luật thị trường, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sự điều tiết của thể chế. Cửa khẩu đóng vai trò là "máy mở không gian", nhưng khả năng khai thác hiệu quả không gian đó bị chi phối bởi chi phí logistics, thời gian thông quan, độ minh bạch thông tin và sự đồng bộ trong quy trình quản lý hành chính 2 bên. Khung phân tích của bài viết bóc tách khái niệm lợi ích thành 3 cấp độ:
Tiềm năng kết nối: Những cơ hội phát sinh từ lợi thế vị trí, sự đa dạng của phương thức vận tải (đường bộ, đường thủy) và quy mô hạ tầng.
Lợi ích tạo lập: Các giá trị dự kiến thu được nhờ mở rộng quy mô thị trường, giảm nhẹ chi phí giao dịch, phát triển chuỗi cung ứng và dịch vụ phụ trợ.
Lợi ích thực nhận: Phần giá trị thặng dư thực tế mà các chủ thể (doanh nghiệp, hộ sản xuất, lao động, cư dân biên giới và ngân sách địa phương) giữ lại được.
Sự phân định này giúp tránh việc đánh đồng giữa "tiềm năng" với "kết quả", hoặc mặc định sự gia tăng kim ngạch thương mại sẽ tự động cải thiện phúc lợi cho mọi tầng lớp xã hội.
Về phương pháp, bài viết áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức, dữ liệu thương mại công khai, văn bản thỏa thuận song phương và các công trình khoa học có liên quan. Đối tượng khảo sát trọng tâm là quan hệ hợp tác Đồng Tháp - Prey Veng gắn liền với hai cặp cửa khẩu quốc tế nêu trên.
Do hạn chế về nguồn số liệu chuỗi thời gian đối với lượng hàng hóa chi tiết qua từng cửa khẩu, chi phí vận chuyển cụ thể, lợi nhuận doanh nghiệp hay thu nhập hộ gia đình biên giới, các lập luận về lợi ích chưa có đủ bằng chứng thực chứng sẽ được đặt dưới dạng giả thuyết phân tích hoặc tiềm năng phát triển, thay vì khẳng định như một tác động nhân quả đã được chứng minh.
3. Tiềm năng kết nối cửa khẩu và các kênh tạo lập lợi ích kinh tế
Vị trí tiếp giáp trực tiếp là bệ phóng để Đồng Tháp và Prey Veng đẩy mạnh giao thương, hạ giá thành tiếp cận thị trường và thiết lập chuỗi cung ứng xuyên biên giới. Trong đó, cửa khẩu Dinh Bà - Banteay Chakrey đóng vai trò là mạch máu kết nối đường bộ, còn cặp Thường Phước - Kaoh Roka nắm giữ ưu thế vượt trội khi tích hợp cả luồng giao thông đường bộ lẫn đường thủy nội địa. Việc vận hành đồng thời 2 cụm cửa khẩu này tạo khả năng hỗ trợ linh hoạt giữa các phương thức vận chuyển tùy thuộc vào đặc tính hàng hóa và nhu cầu của thị trường.
Thứ nhất là lợi ích đến từ sự mở rộng không gian tiêu thụ và đa dạng hóa nguồn cung. Về phía Đồng Tháp, Campuchia là thị trường đầy tiềm năng cho các dòng sản phẩm thế mạnh như vật tư nông nghiệp, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thủy hải sản và hàng tiêu dùng. Ở chiều ngược lại, nguồn hàng từ Campuchia cung cấp nguồn nguyên liệu nông sản và khoáng sản quan trọng cho các nhà máy chế biến tại Việt Nam. Sự giao thương ổn định giúp các nhà kinh doanh giảm bớt rủi ro phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng trước biến động nhu cầu.
Thực tế giao thương giữa 2 tỉnh đã ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ về quy mô. Tổng giá trị xuất nhập khẩu qua lại biên giới giữa Đồng Tháp và Prey Veng trong năm 2025 đạt khoảng 1,25 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 114 triệu USD và nhập khẩu đạt 1,136 tỷ USD. Dữ liệu này phản ánh quy mô trao đổi qua hạ tầng biên giới 2 tỉnh, không đồng nhất với tổng kim ngạch thương mại toàn tuyến của Đồng Tháp với toàn bộ thị trường Campuchia. (Minh Thành 2026)
Quy mô thương mại ấn tượng phản ánh độ mở của thị trường, song cũng đòi hỏi phải phân tích sâu hơn về giá trị gia tăng thực sự tạo ra trên địa bàn. Mức kim ngạch cao chưa thể khẳng định ngay hiệu quả kinh tế cao, bởi lợi ích thu về còn phụ thuộc vào biên độ lợi nhuận, chi phí vận tải, mức độ sâu của khâu chế biến và tỷ lệ giá trị được giữ lại cho nền kinh tế địa phương.
Thứ hai là tối ưu hóa chi phí giao dịch và nâng cao hiệu suất logistics. Khi hạ tầng giao thông kết nối đến cửa khẩu, hệ thống kho bãi, bến cảng và năng lực xếp dỡ được hoàn thiện, doanh nghiệp sẽ tiết giảm được thời gian neo đậu, chi phí nhiên liệu và tỷ lệ hao hụt nông sản. Đặc biệt, lợi thế luồng thủy nội địa tại Thường Phước - Kaoh Roka giúp hạ giá thành vận chuyển đối với các mặt hàng siêu trọng hoặc nông sản khối lượng lớn. Dù vậy, lợi ích logistics chỉ xuất hiện khi khâu trung chuyển giữa đường bộ và đường thủy được tổ chức trơn tru. Nếu thiếu các dịch vụ logistics phụ trợ, chi phí bốc xếp và sang mạn phát sinh có thể triệt tiêu hoàn toàn lợi thế về phương thức vận tải thủy.
Thứ ba là thúc đẩy liên kết chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị nông nghiệp. Dựa trên tương đồng về nền tảng kinh tế nông nghiệp, 2 bên có nhiều dư địa để hợp tác trong việc thu mua, phân phối vật tư, sơ chế, bảo quản và tiêu thụ nông sản. Doanh nghiệp 2 tỉnh có thể chủ động phối hợp xây dựng vùng nguyên liệu và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật. Nếu mối liên kết được ràng buộc bằng hợp đồng kinh tế minh bạch, thương mại biên giới sẽ bước sang giai đoạn hợp tác chuỗi giá trị thay vì chỉ dừng lại ở các giao dịch mua bán nhỏ lẻ, thời vụ.
Mặc dù vậy, quy mô giao dịch hiện tại chưa đủ để khẳng định chuỗi giá trị đã được tích hợp sâu. Việc hình thành chuỗi cung ứng bền vững đòi hỏi năng lực quản trị doanh nghiệp, tiêu chuẩn chất lượng khắt khe và cơ chế chia sẻ rủi ro. Đây vẫn là một tiềm năng cần được xác minh qua các cuộc khảo sát thực địa.
Thứ tư là dòng chảy thương mại mở rộng tạo ra hiệu ứng lan tỏa việc làm và sinh kế khu vực biên giới. Sự gia tăng của luồng hàng hóa kéo theo nhu cầu về bốc xếp, kho bãi, vận chuyển, sửa chữa phương tiện và các dịch vụ đời sống, từ đó tạo thu nhập cho lao động địa phương và các tiểu thương. Về phía chính quyền, thương mại chính ngạch phát triển góp phần củng cố nguồn thu, tạo động lực nâng cấp hạ tầng dân sinh và gia tăng sức hút đầu tư.
Tuy nhiên, bài toán phân phối lợi ích luôn chứa đựng sự bất bình đẳng. Các tập đoàn, doanh nghiệp logistics lớn thường nắm giữ phần lớn lợi ích nhờ ưu thế về vốn và thông tin, trong khi người nông dân và thương lái nhỏ dễ bị yếu thế. Nếu các dịch vụ có giá trị gia tăng cao do lực lượng bên ngoài đảm nhận, cư dân vùng biên chỉ nhận được phần thặng dư thấp từ các công việc lao động phổ thông. Vì thế, đánh giá chất lượng hợp tác bắt buộc phải xem xét khía cạnh phân phối lợi ích xã hội.
4. Điều kiện chuyển hóa lợi ích và vai trò hành động của chính quyền địa phương
Sự tồn tại của các cặp cửa khẩu và quy mô giao thương mới chỉ là điều kiện cần. Việc hiện thực hóa lợi ích kinh tế phụ thuộc vào một chuỗi các điều kiện thực thi:
Thứ nhất là mức độ đồng bộ của hạ tầng logistics. Việc nâng cấp cửa khẩu lên cấp quốc tế chỉ khai mở về mặt pháp lý; hiệu quả kinh tế thực sự phụ thuộc vào chất lượng đường dẫn, công suất kho bãi, bến cảng chuyên dụng và tính kết nối liên hoàn giữa các phương thức vận tải. Mọi sự đầu tư hạ tầng cần bám sát nhu cầu thực tế của dòng hàng để tránh lãng phí hoặc chồng chéo.
Thứ hai là sự cải thiện thủ tục hành chính và cơ chế phối hợp song phương. Hiệp định Thương mại biên giới ký ngày 08/11/2022 (có hiệu lực từ ngày 20/07/2023) đã tạo khung khổ pháp lý chung. Ở cấp độ địa phương, các kênh đối thoại thường xuyên giữa Đồng Tháp và Prey Veng giúp tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn thông quan, gia tăng tính dự báo cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, thước đo hiệu quả của bộ máy không nằm ở số lượng biên bản ghi nhớ, mà nằm ở sự cắt giảm thời gian và chi phí thực tế cho dòng hàng.
Trong tiến trình này, chính quyền địa phương đóng vai trò là cầu nối thể chế và lực lượng hỗ trợ thị trường. Vai trò đó thể hiện qua việc lắng nghe vướng mắc của doanh nghiệp, cung cấp thông tin thị trường, đề xuất chính sách tháo gỡ lên cấp Trung ương, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với công tác kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại và giữ gìn an ninh biên giới.
Một nhiệm vụ then chốt khác là mở rộng khả năng thụ hưởng cho các chủ thể địa phương. Chính quyền cần có các chính sách hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp thông tin rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của nước bạn, đồng thời khuyến khích hình thành các hợp tác xã, doanh nghiệp logistics nội địa để nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại cho vùng biên.
Từ thực tiễn Đồng Tháp - Prey Veng, nghiên cứu gợi mở 3 hướng đi chiến lược:
- Quy hoạch và phát triển 2 cặp cửa khẩu Dinh Bà và Thường Phước theo hướng phân công chức năng bổ trợ, dựa trên ưu thế riêng của đường bộ và đường thủy.
- Tối ưu hóa quy trình thủ tục thông quan, tăng cường công khai minh bạch thông tin và thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại chuyên sâu.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê chuyên sâu (theo cửa khẩu, mặt hàng, thời gian thông quan, chi phí logistics và cơ cấu lao động) nhằm tạo căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách.
5. Kết luận
Tiềm năng kết nối từ 2 cặp cửa khẩu quốc tế Dinh Bà - Banteay Chakrey và Thường Phước - Kaoh Roka mang lại không gian phát triển kinh tế to lớn cho 2 tỉnh Đồng Tháp và Prey Veng. Lợi thế địa giới, quy mô giao thương hiện hữu cùng sự kết hợp của vận tải thủy - bộ tạo cơ hội quan trọng để mở rộng thị trường, cắt giảm chi phí logistics và phát triển liên kết chuỗi giá trị. Dù vậy, tiềm năng chỉ có thể biến thành giá trị thực khi có sự đồng bộ về hạ tầng, sự thông thoáng về thể chế và sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp cũng như người dân địa phương.
Đóng góp của bài viết là đã xây dựng khung phân tích toàn diện liên kết giữa tiềm năng hạ tầng, kênh tạo lập lợi ích và điều kiện thực thi. Nghiên cứu nhấn mạnh đánh giá hiệu quả hợp tác kinh tế biên giới phải vượt lên trên tư duy quy mô kim ngạch đơn thuần, để hướng tới các giá trị thực chất như chi phí giao dịch, việc làm và sự bình đẳng trong phân phối lợi ích. Chính quyền địa phương cần phát huy vai trò kiến tạo, vừa quản lý tốt khu vực biên giới vừa tạo môi trường thuận lợi để cư dân và doanh nghiệp địa phương cùng thụ hưởng thành quả phát triển.
Do giới hạn về dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu chưa thể bóc tách định lượng tác động riêng biệt của từng cửa khẩu hay từng nhóm hàng hóa cụ thể đối với thu nhập của người dân. Đây là gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực chứng, góp phần hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế biên giới bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. (2025). Công bố mở Cửa khẩu Quốc tế đường bộ/đường sông Thường Phước - Kaoh Roka. Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp. https://dongthap.gov.vn/web/cong-thong-tin-dtp/tin-tuc/chi-tiet?id=6444597
Burova, E. S. (2018). Cross-border trade between Cambodia and Vietnam and its impact on the economic development. The Russian Journal of Vietnamese Studies, 2(4), 30-42. https://doi.org/10.24411/2618-9453-2018-10035
Mahanty, S. (2019). A tale of two networks: Market formation on the Cambodia-Vietnam frontier. Transactions of the Institute of British Geographers, 44(2), 315-330. https://doi.org/10.1111/tran.12286
Minh Thành. (2026). Đoàn công tác chính quyền tỉnh Prey Veng (Campuchia) thăm, chúc Tết tỉnh Đồng Tháp. Báo Đồng Tháp https://baodongthap.vn/doan-cong-tac-chinh-quyen-tinh-prey-veng-campuchia-tham-chuc-tet-tinh-dong-thap-a236766.html
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Campuchia. (2022). Hiệp định Thương mại biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Campuchia. Cơ sở dữ liệu điều ước quốc tế, Bộ Ngoại giao Việt Nam. https://treaty.mofa.gov.vn/en-us/treaties/bilateral-treaties/HB4588/agreement-on-border-trade-between-the-government-of-the-socialist-republic-of-viet-nam-and-the
Economic benefits of Vietnam - Cambodia cross-border cooperation arising from border-gate connectivity potential: A case study of Dong Thap - Prey Veng
Nguyen Thi Tu Trinh
Office of the People’s Committee of Dong Thap Province
Abstract:
This study examines the mechanisms through which the connectivity potential of two pairs of international border gates: Dinh Ba - Banteay Chakrey and Thuong Phuoc - Kaoh Roka, is translated into economic benefits in cooperation between Dong Thap and Prey Veng. Drawing on a political economy approach and a case-study method combined with secondary-document analysis, the study identifies the channels through which economic benefits are generated, the conditions required for their realization, and the role of local governments. The findings suggest that the effectiveness of cross-border cooperation should not be assessed solely by trade turnover, but also by its capacity to reduce transaction costs, develop value chains, and generate tangible benefits for border communities.
Keywords: economic benefits, border trade, international border gates, cross-border cooperation, Dong Thap, Prey Veng