Tóm tắt:

Bài báo đánh giá kết quả phát triển ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2018-2025 trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí theo Quyết định số 319/QĐ-TTg. Phương pháp nghiên cứu gồm phân tích thống kê mô tả, kiểm tra tính nhất quán số liệu, đối chiếu mục tiêu và phân tích trường hợp công nghệ. Kết quả nghiên cứu gợi ý chuyển trọng tâm chính sách sang phát triển năng lực thiết kế, tích hợp hệ thống và chuỗi nhà cung cấp, gắn hỗ trợ với dự án thương mại, kết quả công nghệ và cơ chế giám sát có thể kiểm chứng.

Từ khóa: cơ khí Việt Nam, Quyết định 319, tự chủ công nghệ, tích hợp hệ thống, công nghiệp hỗ trợ.

1. Đặt vấn đề

Chiến lược phát triển ngành cơ khí theo Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 hướng tới nâng cao trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Sau khi kết thúc mốc mục tiêu năm 2025, vấn đề cần làm rõ là mức mở rộng sản xuất đã chuyển hóa đến đâu thành năng lực công nghiệp của doanh nghiệp Việt Nam. Câu hỏi này có ý nghĩa trực tiếp đối với lựa chọn công cụ phát triển cơ khí trong các dự án đường sắt, năng lượng và chế biến khoáng sản giai đoạn tiếp theo (Thủ tướng Chính phủ, 2018).

Giá trị sản xuất, kim ngạch xuất khẩu và năng lực tự chủ phản ánh những khía cạnh khác nhau. Một nền sản xuất có thể tăng nhanh nhờ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn nhập phần lớn thiết bị chính, linh kiện và công nghệ; ngược lại, một nhóm doanh nghiệp có thể làm chủ thiết bị chuyên dụng dù quy mô thị trường còn nhỏ. Vì vậy, đánh giá Chiến lược phải kết hợp số liệu toàn ngành với bằng chứng kỹ thuật tại các dự án thực tế.

Bài báo tập trung vào 3 nội dung chính: đánh giá sự thay đổi về quy mô sản xuất và cơ cấu sở hữu; xác định mức độ làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo ở một số nhóm sản phẩm cơ khí; và phân tích cơ chế giúp kết quả công nghệ được áp dụng lặp lại. Đóng góp của bài viết là nối kết các bằng chứng này thành định hướng chính sách có đầu ra đo lường được, đồng thời chỉ rõ những chỉ tiêu chưa đủ dữ liệu để kết luận.

2. Phương pháp nghiên cứu và khung đánh giá

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phân tích thống kê mô tả với đánh giá năng lực công nghệ theo sản phẩm và hệ thống thiết bị. Phạm vi thời gian là giai đoạn 2018-2025, tương ứng thời kỳ triển khai các mục tiêu chủ yếu của Chiến lược phát triển ngành cơ khí theo Quyết định số 319/QĐ-TTg. Các biến phân tích gồm giá trị sản xuất, cơ cấu sở hữu, kim ngạch xuất nhập khẩu và phạm vi công nghệ do doanh nghiệp trong nước đảm nhận. Bằng chứng ở cấp dự án được sử dụng để nhận diện khả năng thiết kế, chế tạo, tích hợp và cung cấp dịch vụ kỹ thuật.

Phân tích được tiến hành ở 2 cấp độ. Ở cấp ngành, so sánh năm đầu và năm cuối kỳ để xác định mức tăng quy mô, sự thay đổi tỷ trọng và đóng góp của từng khu vực vào phần tăng thêm. Ở cấp sản phẩm, xem xét các khâu doanh nghiệp thực sự kiểm soát, từ tính toán thiết kế đến thử nghiệm, chạy thử và bảo hành. Kết hợp 2 cấp độ cho phép phân biệt sự mở rộng hoạt động sản xuất với sự phát triển năng lực công nghệ, đồng thời xác định những nội dung cần ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo.

Tốc độ tăng trưởng bình quân được tính theo công thức g = [(V₂₀₂₅/V₂₀₁₈)^(1/7) - 1] × 100%. Tỷ trọng của một khu vực bằng giá trị khu vực đó chia tổng giá trị cùng phạm vi, cùng năm. Khu vực trong nước trong phân tích sở hữu gồm nhà nước, ngoài nhà nước và cá thể theo Bảng 1. Chỉ tiêu này không phải giá trị gia tăng nội địa, vì doanh nghiệp trong nước vẫn sử dụng đầu vào nhập khẩu.

2.2. Khung đánh giá năng lực công nghiệp

Năng lực công nghiệp được xem xét theo năm nhóm tiêu chí: khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường; mức tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng; quyền làm chủ thiết kế và công nghệ; khả năng tích hợp, bảo đảm thông số vận hành; và mức độ thương mại hóa lặp lại. Một sản phẩm hoàn thành chế tạo là bằng chứng về năng lực thực hiện hợp đồng, nhưng để xác định năng lực phát triển sản phẩm còn phải kiểm tra quyền sửa đổi thiết kế, dữ liệu tính toán, hồ sơ thử nghiệm và khả năng cung cấp cho các dự án tiếp theo.

Đối với thiết bị đồng bộ, cần phân biệt ba cấp độ. Cấp độ thứ nhất là gia công, chế tạo theo bản vẽ và yêu cầu kỹ thuật được giao. Cấp độ thứ hai là tự thiết kế và cung cấp một thiết bị hoặc hệ thống thành phần, chịu trách nhiệm về chức năng của phần việc đó. Cấp độ thứ ba là làm chủ thiết kế tổng thể, quản lý giao diện và bảo đảm hiệu suất toàn dây chuyền. Doanh nghiệp có thể đạt mức cao ở một hệ thống phụ trợ nhưng vẫn cần đối tác nước ngoài đối với công nghệ quá trình hoặc thiết bị chính. Đánh giá phải xác định rõ ranh giới trách nhiệm kỹ thuật này.

Phân tích ngoại thương sử dụng nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; phân tích sản xuất sử dụng phạm vi ngành kinh tế. Do hai phạm vi không hoàn toàn trùng nhau, kim ngạch xuất khẩu không được chia trực tiếp cho giá trị sản xuất để xác định tỷ lệ sản lượng xuất khẩu. Các giá trị tiền tệ được so sánh trên cùng chuỗi tổng hợp; tốc độ tăng phản ánh thay đổi giá trị công bố, chưa tách riêng ảnh hưởng giá và tỷ giá. Cách tiếp cận này phù hợp để nhận diện xu hướng và cơ cấu, nhưng không thay thế phép đo năng suất thực.

Việc đánh giá thực hiện Chiến lược dựa trên kết quả phát triển quan sát được, không quy toàn bộ thay đổi cho một văn bản chính sách. Năng lực cơ khí là kết quả tích lũy của nhiều chương trình đầu tư, nghiên cứu và hợp tác công nghệ qua các thời kỳ. Những trường hợp bắt đầu trước năm 2018 được xem xét về khả năng duy trì, mở rộng và ứng dụng trong giai đoạn nghiên cứu. Cách đánh giá này giúp nhận diện cơ chế có thể tiếp tục phát huy mà không đồng nhất thời điểm hoàn thành sản phẩm với thời điểm hình thành năng lực.

3. Kết quả phát triển về quy mô và cơ cấu sở hữu

Giá trị sản xuất ngành cơ khí tăng từ 1.626,3 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 3.225,5 nghìn tỷ đồng năm 2025, tăng 98,3%, tương đương gần 1,98 lần. Tốc độ tăng trưởng bình quân tính lại đạt 10,3%/năm. Chuỗi số liệu cho thấy, năm 2020 gần như đi ngang so với 2019, sau đó phục hồi; riêng giai đoạn 2021-2025 tăng bình quân khoảng 12,1%/năm. Đây là bằng chứng về sự mở rộng quy mô hoạt động của ngành, nhưng chưa đủ để xác định mức tăng trưởng thực sau điều chỉnh giá (Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026).

Bảng 1. Một số chỉ tiêu về sản xuất và sở hữu

Chỉ tiêu

2018

2025

Thay đổi

Giá trị sản xuất toàn ngành

1.626,3

3.225,5

Tăng 98,3%

Giá trị sản xuất khu vực FDI

893,9

1.988,5

Tăng 122,5%

Giá trị sản xuất khu vực trong nước

732,4

1.237,0

Tăng 68,9%

Tỷ trọng FDI trong sản xuất

55,0%

61,6%

Tăng 6,6 điểm %

Khu vực ngoài nhà nước

620,7

1.096,1

Tăng 76,6%

Khu vực nhà nước

33,7

34,6

Tăng 2,7%

Ghi chú: Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng. Khu vực trong nước bao gồm khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và cá thể.

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026).

FDI tăng bình quân khoảng 12,1%/năm, cao hơn mức 7,8%/năm của khu vực trong nước. Trong phần tăng thêm 1.599,2 nghìn tỷ đồng của toàn ngành, FDI đóng góp 1.094,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 68,4%. Khu vực trong nước đóng góp 504,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 31,6%. Đây là phân rã mức tăng theo số liệu giá trị, không phải đo lường đóng góp của từng khu vực vào tăng trưởng GDP.

Doanh nghiệp và cơ sở trong nước vẫn tăng về quy mô tuyệt đối. Riêng khu vực ngoài nhà nước tăng 475,4 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 94,2% phần tăng của khu vực trong nước. Kết quả này cho thấy, vai trò mở rộng sản xuất của khu vực ngoài nhà nước, đồng thời phản ánh tốc độ tăng nhanh hơn của FDI. Việc tỷ trọng trong nước giảm từ khoảng 45,0% xuống 38,4% không đồng nghĩa sản xuất trong nước suy giảm; vấn đề là năng lực trong nước tăng chậm hơn tổng quy mô ngành.

Sự khác biệt giữa sở hữu và nguồn gốc giá trị cần được giữ rõ trong đánh giá chính sách. FDI có thể tạo thị trường, việc làm, đào tạo kỹ năng và đơn hàng cho nhà cung cấp Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ từ tỷ trọng sản xuất chưa thể xác định mức chuyển giao công nghệ hoặc lượng giá trị giữ lại trong nước. Muốn đánh giá tác động lan tỏa phải bổ sung dữ liệu mua hàng nội địa, hợp đồng đồng thiết kế, quyền sử dụng công nghệ và số nhà cung cấp được phát triển sau đầu tư.

Do đó, thành công về quy mô cần được ghi nhận cùng với yêu cầu cải thiện cấu trúc năng lực. Chỉ tiêu sản xuất toàn ngành phù hợp để theo dõi dung lượng hoạt động, còn lựa chọn hỗ trợ công nghệ cần dựa vào phạm vi thiết kế, sản phẩm do doanh nghiệp Việt Nam kiểm soát và khả năng cung cấp lặp lại cho nhiều khách hàng.

4. Ngoại thương và khoảng cách về năng lực trong nước

Kim ngạch xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng từ 384,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 1.557,7 nghìn tỷ đồng năm 2025, gấp 4,05 lần; tốc độ tăng bình quân đạt khoảng 22,1%/năm. Nhập khẩu cùng nhóm tăng từ 784,0 lên 1.610,0 nghìn tỷ đồng, gấp 2,05 lần, tương ứng khoảng 10,8%/năm. Nhập siêu giảm từ 399,3 xuống 52,3 nghìn tỷ đồng, tức giảm khoảng 86,9% (Vụ Thị trường Ngoài nước, Bộ Công Thương, tháng 5/2026).

Bảng 2. Ngoại thương theo khu vực sở hữu

Chỉ tiêu

2018

2025

Xuất khẩu toàn nhóm hàng

384,7

1.557,7

Nhập khẩu toàn nhóm hàng

784,0

1.610,0

Cán cân toàn nhóm hàng

−399,3

−52,3

Xuất khẩu FDI

341,4

1.450,9

Xuất khẩu ngoài FDI

43,3

106,8

Nhập khẩu ngoài FDI

344,1

396,5

Cán cân ngoài FDI

−300,8

−289,7

Cán cân FDI

−98,5

237,4

Ghi chú: Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng. Dấu âm thể hiện nhập siêu. Khu vực ngoài FDI được xác định bằng tổng giá trị trừ giá trị của khu vực FDI.

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Vụ Thị trường Ngoài nước, Bộ Công Thương (2026).

Phân rã cán cân thương mại làm rõ một khác biệt mà số tổng hợp che khuất. Khu vực FDI chuyển từ nhập siêu 98,5 nghìn tỷ đồng sang xuất siêu 237,4 nghìn tỷ đồng, cải thiện 335,9 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, khu vực ngoài FDI vẫn nhập siêu 289,7 nghìn tỷ đồng năm 2025, chỉ giảm 11,1 nghìn tỷ đồng so với 2018. Như vậy, khoảng 96,8% mức cải thiện cán cân chung 347,0 nghìn tỷ đồng đến từ thay đổi cán cân FDI.

Xuất khẩu ngoài FDI tăng từ 43,3 lên 106,8 nghìn tỷ đồng, tương ứng 2,47 lần và bình quân khoảng 13,8%/năm. Đây là tiến bộ có thực, song chậm hơn mức tăng của toàn nhóm hàng. Tỷ trọng xuất khẩu FDI tính từ trị số gốc tăng từ 88,7% lên 93,1%. Sự thay đổi này cho thấy, xuất khẩu tăng nhanh hơn khả năng mở rộng thị phần của khu vực ngoài FDI, đặt ra yêu cầu nâng năng lực phát triển sản phẩm và tiếp cận khách hàng quốc tế của doanh nghiệp trong nước.

Cán cân ngoài FDI không phải phép đo trực tiếp mức yếu kém công nghệ. Nhập khẩu có thể gồm máy móc phục vụ đầu tư và nâng cấp sản xuất, tạo năng lực cho những năm sau. Tuy vậy, việc nhập siêu ngoài FDI còn lớn cho thấy không thể lấy kết quả gần cân bằng thương mại toàn nhóm hàng làm bằng chứng rằng nhu cầu thiết bị trong nước đã được đáp ứng chủ yếu bằng năng lực chế tạo Việt Nam. Cần phân loại nhập khẩu tư liệu đầu tư, linh kiện và thiết bị hoàn chỉnh để đánh giá sâu hơn.

Kết quả này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách theo dõi thành tích xuất khẩu. Ngoài kim ngạch, cần xác định doanh nghiệp nào nắm thiết kế, sản phẩm xuất khẩu có sử dụng bao nhiêu đầu vào trong nước và nhà cung cấp Việt Nam tham gia ở cấp độ nào. Nếu chỉ tăng giá trị gia công theo thiết kế bên ngoài, mức tăng xuất khẩu có thể chưa đi cùng quyền chủ động phát triển sản phẩm và vị thế thương lượng trong chuỗi cung ứng.

5. Bằng chứng về năng lực thiết kế và chế tạo

Năng lực công nghệ của ngành cơ khí phân hóa rõ theo nhóm sản phẩm. Các kết quả nổi bật xuất hiện ở những hệ thống có nhu cầu dự án cụ thể, có tổ chức thiết kế trong nước và được kiểm chứng qua chế tạo, thử nghiệm, vận hành. Những thông số tại Bảng 3 cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đã đảm nhận được một số thiết bị có yêu cầu cao về tải trọng, độ tin cậy và tính đồng bộ. Tuy nhiên, phạm vi kết luận cần gắn với từng sản phẩm và trách nhiệm kỹ thuật thực tế.

Bảng 3. Một số bằng chứng kỹ thuật cụ thể

Nhóm sản phẩm

Kết quả kỹ thuật

Phạm vi kết luận

Nâng hạ thủy điện

Cơ khí Quang Trung chế tạo cầu trục gian máy 1.200 tấn; tỷ lệ nội địa hóa công bố khoảng 90% tại Lai Châu

Đạt năng lực ở thiết bị chuyên dụng; không suy rộng sang mọi loại cần trục

Cơ khí thủy công

NARIME tham gia 29 dự án trong và ngoài nước, quy mô nhà máy 120-2.400 MW

Có kinh nghiệm thiết kế và triển khai nhiều công trình

Nhiệt điện

Cấp than, thải tro xỉ, lọc bụi tĩnh điện cho tổ máy 600 MW; ứng dụng tại Sông Hậu 1, Quảng Trạch 1, Nghi Sơn 2, Vũng Áng 2.

Làm chủ từng hệ thống; chưa đồng nghĩa làm chủ toàn nhà máy

Xi măng

Sông Thao khoảng 40% nội địa hóa; Thái Nguyên khoảng 65,7% theo từng dự án

Mức tham gia khác nhau theo dự án; chưa có mẫu số chuẩn hóa để so sánh tuyệt đối

Thiết bị điện

EEMC chế tạo máy biến áp 500 kV-467 MVA năm 2019; công bố tổ 500 kV-3×300 MVA tháng 12/2024

Năng lực sản phẩm điện áp cao được nâng lên; không đại diện toàn bộ thiết bị điện

Ghi chú: Tỷ lệ nội địa hóa được xác định theo từng sản phẩm hoặc dự án, không đại diện cho toàn ngành.

Nguồn: Tổng hợp và đối chiếu từ thông tin công bố về kết quả nghiên cứu, chế tạo của Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh (2024) và Bộ Công Thương (2023).

Trong thiết bị nâng hạ, Cơ khí Quang Trung đã chế tạo cầu trục gian máy sức nâng 1.200 tấn; NARIME có năng lực cung cấp cầu trục gian máy đến 500 tấn và cầu trục chân dê đến 320 tấn. Các kết quả này cho thấy, khả năng tính toán kết cấu chịu lực, thiết kế cơ cấu, tích hợp điện và điều khiển, thử tải và nghiệm thu. Đây là nền tảng để phát triển thiết bị nâng hạ công nghiệp có tải trọng lớn. Mở rộng sang cần trục cảng, cần trục di động hoặc các thiết bị làm việc với chu kỳ cao vẫn đòi hỏi bổ sung kinh nghiệm, công nghệ truyền động và hệ thống thử nghiệm chuyên dụng.

Đối với nhiệt điện, năng lực chế tạo và tích hợp đã hình thành ở hệ thống cấp than, thải tro xỉ và lọc bụi tĩnh điện cho tổ máy công suất đến khoảng 600 MW (Bộ Công Thương, 2023). Điểm tiến bộ quan trọng là doanh nghiệp đảm nhận trách nhiệm đối với cả hệ thống thành phần, gồm thiết kế, cung cấp, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật. Tuy nhiên, làm chủ các hệ thống này vẫn có thể đi cùng sự phụ thuộc vào thiết bị công nghệ chính và thiết kế tổng thể nhà máy. Mục tiêu phát triển cần ghi rõ hệ thống, phạm vi cung cấp và trách nhiệm bảo đảm thông số vận hành.

Việc EEMC xuất xưởng tổ máy biến áp 500 kV-3×300 MVA vào tháng 12/2024, đáp ứng tiêu chuẩn IEC 60076, cho thấy năng lực chế tạo phải được phát triển cùng năng lực thử nghiệm (Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh, 2024). Với sản phẩm có yêu cầu độ tin cậy cao, thiết kế chỉ có giá trị thương mại khi được kiểm chứng bằng quy trình thử phù hợp. Cơ sở thử nghiệm, hồ sơ chất lượng và kinh nghiệm vận hành là một phần của năng lực cạnh tranh. Chính sách phát triển sản phẩm mới cần bố trí nguồn lực cho các khâu này ngay từ khi hình thành nhiệm vụ.

6. Đánh giá mức độ hoàn thành và nguyên nhân hạn chế

Kết quả thực hiện Chiến lược thể hiện rõ nhất ở việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng khả năng cung cấp sản phẩm và hình thành một số đơn vị có năng lực thiết kế, tích hợp. Mức tiến bộ về công nghệ chưa đồng đều giữa các phân ngành. Thiết bị nâng hạ thủy điện, một số thiết bị điện và hệ thống phụ trợ công nghiệp đã có sản phẩm ứng dụng thực tế; trong khi máy công cụ chính xác, robot, thiết bị công nghệ chính và tích hợp dây chuyền hoàn chỉnh vẫn còn nhiều khoảng trống. Vì vậy, cần đánh giá kết quả theo nhóm sản phẩm và cấp độ năng lực thay vì quy về một tỷ lệ hoàn thành chung.

Sự khác biệt thể hiện ở chuỗi sản xuất phương tiện giao thông. Xe máy đã hình thành mạng lưới cung ứng linh kiện tương đối sâu, gắn với thị trường đủ lớn và quá trình chuẩn hóa sản phẩm. Trong ô tô, mức tham gia trong nước khác nhau đáng kể giữa xe con, xe tải, xe khách và xe điện. Các dòng xe có điều kiện thị trường và quy mô sản xuất khác nhau nên khả năng thu hồi chi phí khuôn, thiết kế và phát triển linh kiện cũng khác nhau. Do đó, chính sách cần xác định đúng phân khúc, tập trung vào cụm chi tiết có khả năng sản xuất ổn định và từng bước tiếp cận các khâu thiết kế, truyền động, điện tử và điều khiển.

Đối với máy nông nghiệp, doanh nghiệp trong nước đã cung cấp máy phổ thông và một số dây chuyền sau thu hoạch, nhưng còn hạn chế ở máy công suất lớn, máy thu hoạch và chế biến sâu. Đối với đường sắt, robot và máy công cụ chính xác, khả năng tham gia kết cấu hoặc lắp ráp chưa thay thế được năng lực thiết kế hệ thống, điều khiển và chứng minh độ tin cậy. Đây là các lĩnh vực cần đặt mục tiêu theo sản phẩm và công nghệ cụ thể, thay vì dùng một tỷ lệ nội địa hóa tổng hợp.

6.1. Thị trường dự án chưa trở thành đơn hàng phát triển công nghệ

Nhu cầu đầu tư lớn không tự chuyển thành cơ hội làm chủ thiết bị. Nếu cấu hình công nghệ và danh mục nhà cung cấp đã được quyết định trước khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia, phạm vi còn lại thường là gia công và lắp đặt. Gói thầu tích hợp quá rộng, yêu cầu kinh nghiệm toàn bộ dây chuyền và nghĩa vụ bảo lãnh lớn cũng làm giảm cơ hội của doanh nghiệp mới có năng lực ở từng hệ thống. Muốn nâng vai trò trong nước phải đưa yêu cầu phát triển công nghệ vào giai đoạn chuẩn bị dự án, đồng thời xác định đơn vị chịu trách nhiệm giao diện và hiệu suất chung.

6.2. Đầu tư công nghệ chưa được hỗ trợ hết chu trình

Doanh nghiệp phải chịu chi phí thiết kế, nguyên mẫu, thử nghiệm và chứng nhận trước khi có doanh thu. Khi hỗ trợ nghiên cứu kết thúc ở hồ sơ nghiệm thu, còn tín dụng chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm, sản phẩm dễ dừng ở quy mô thử nghiệm. Khoảng trống đơn hàng giữa các dự án tiếp tục làm mất đội ngũ và giảm hiệu quả thiết bị chuyên dụng. Vì vậy, R&D cần gắn với chủ đầu tư tiếp nhận và kế hoạch thương mại hóa, có cơ chế chia sẻ chi phí thử nghiệm và rủi ro của loạt sản phẩm đầu.

6.3. Liên kết chuỗi và giám sát chưa đủ chiều sâu

Doanh nghiệp dẫn dắt cần năng lực thiết kế, quản lý cấu hình và phát triển nhà cung cấp; doanh nghiệp vệ tinh cần tiêu chuẩn, quy trình chất lượng và đơn hàng ổn định. Liên kết chỉ dựa vào mua bán ngắn hạn khó tạo động lực đầu tư chuyên môn hóa. Mặt khác, thiếu dữ liệu thống nhất khiến cơ quan quản lý khó biết hỗ trợ đã tạo thêm sản phẩm, nhà cung cấp hay quyền công nghệ nào. Hệ thống giám sát phải theo dõi cả phạm vi công nghệ được tiếp nhận, mức mua sắm trong nước và kết quả ứng dụng sau đầu tư, qua đó tạo căn cứ điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực.

7. Kiến nghị chính sách cho giai đoạn 2026 đến 2045

Hướng điều chỉnh chủ yếu là tổ chức chương trình phát triển năng lực theo dự án và hệ thống thiết bị. Mỗi chương trình cần xác định nhu cầu mua sắm, đơn vị tiếp nhận công nghệ, nhà thiết kế, doanh nghiệp tích hợp, mạng lưới chế tạo và cơ sở thử nghiệm. Lựa chọn ưu tiên dựa trên dung lượng thị trường, năng lực sẵn có, khả năng học công nghệ và tác động lan tỏa; không chỉ dựa vào danh mục ngành rộng.

7.1. Gắn dự án đầu tiên với quyền thiết kế và khả năng áp dụng tiếp

Điện gió, khai thác khoáng sản, sản xuất alumin & điện phân nhôm, đường sắt có thể được tổ chức thành chương trình phát triển năng lực trong nước, nhưng phải phân biệt yêu cầu kỹ thuật từng lĩnh vực. Hợp đồng hợp tác cần mô tả hồ sơ được chuyển giao, phạm vi sử dụng phần mềm, dữ liệu tính toán, quyền sửa đổi thiết kế và đào tạo chuyên gia. Tiếp nhận bản vẽ chế tạo chưa đồng nghĩa được quyền làm thiết kế tổng thể hoặc phát triển sản phẩm tiếp theo.

Có thể xây dựng lộ trình qua các dự án nối tiếp: giai đoạn đầu tiếp nhận và kiểm chứng công nghệ; giai đoạn sau tăng công việc thiết kế, tích hợp do phía Việt Nam thực hiện; cuối cùng đánh giá năng lực cung cấp độc lập trong phạm vi đã xác định. Số dự án và thời gian phải được quyết định theo độ phức tạp, không ấn định một công thức chung. Kết quả mỗi bước cần được nghiệm thu bằng sản phẩm vận hành và hồ sơ kỹ thuật mà doanh nghiệp Việt Nam thực sự có quyền sử dụng.

7.2. Phân chia phạm vi công việc gắn với trách nhiệm hệ thống

Tách hợp lý tư vấn đầu tư, thiết bị, hệ thống điện và cơ, xây dựng và dịch vụ giúp mở phạm vi tham gia cho doanh nghiệp có năng lực chuyên sâu. Tuy nhiên, tách gói chỉ có hiệu quả khi chủ đầu tư kiểm soát được yêu cầu kỹ thuật và giao diện. Cần chỉ định rõ đơn vị chịu trách nhiệm tích hợp, tiêu chí nghiệm thu và cách phân định bảo hành. Chi phí vòng đời, độ tin cậy, năng lực bảo trì và khả năng thay thế phụ tùng cần được xét cùng giá mua ban đầu.

7.3. Phát triển doanh nghiệp dẫn dắt cùng mạng lưới nhà cung cấp

Hỗ trợ doanh nghiệp dẫn dắt nên gắn với cam kết chuyển giao yêu cầu kỹ thuật, phát triển nhà cung cấp và tạo đơn hàng cho cơ sở vệ tinh. Cơ quan quản lý có thể theo dõi giá trị mua sắm trong nước sau khi loại phần nhập khẩu bán lại, số nhà cung cấp được đánh giá đạt chuẩn và số cụm linh kiện được đồng thiết kế. Hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ cần tập trung vào năng lực cụ thể như đúc chính xác, nhiệt luyện, truyền động, khuôn và đo lường, tránh đầu tư trùng lặp nhiều dây chuyền thiếu đơn hàng.

7.4. Bố trí nguồn lực đến khi sản phẩm có thể thương mại hóa

Nguồn lực nhà nước nên ưu tiên các khâu có chi phí chung lớn và lợi ích lan tỏa: thử nghiệm, chứng nhận, dữ liệu vật liệu, đào tạo chuyên gia và hoàn thiện thiết kế. Tín dụng theo hợp đồng, bảo lãnh và chia sẻ rủi ro sản xuất thử cần đi cùng kiểm soát đầu ra. Doanh nghiệp nhận hỗ trợ phải chứng minh được sản phẩm đáp ứng yêu cầu, khách hàng tiếp nhận và phương án cung cấp tiếp theo. Hỗ trợ nên có thời hạn, mốc đánh giá và điều kiện dừng khi không hoàn thành cam kết công nghệ hoặc thương mại.

Nhân lực thiết kế tổng thể và tích hợp cần được đào tạo trong dự án thật. Viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có thể cùng giải quyết bài toán mô phỏng, thiết kế, thử nghiệm và xử lý sự cố, qua đó hình thành đội ngũ kỹ sư trưởng. Hiệu quả đào tạo được đánh giá bằng phạm vi công việc đảm nhận độc lập và hồ sơ thiết kế được chấp nhận, thay vì chỉ bằng số người tham dự khóa học.

8. Hệ thống đo lường

Chiến lược trong giai đoạn mới đòi hỏi phải tách bạch 3 thước đo: thị trường, nguồn gốc giá trị và quyền làm chủ công nghệ. Thực tế cho thấy, một sản phẩm dù sử dụng nhiều thép, kết cấu hay nhân công trong nước vẫn có thể phụ thuộc hoàn toàn vào thiết kế và công nghệ nhập khẩu. Ngược lại, có những doanh nghiệp đã chủ động được khâu thiết kế nhưng lại bắt buộc phải nhập khẩu vật liệu đặc chủng. Vì 2 kịch bản này mang bản chất khác nhau nên cần những công cụ hỗ trợ chuyên biệt; một chỉ số "tỷ lệ nội địa hóa" thuần túy theo kiểu cũ không còn đủ sức phản ánh toàn diện bức tranh này.

Bảng 4. Các chỉ tiêu đề xuất cho giám sát thực hiện

Nhóm chỉ tiêu

Nội dung cần đo và bằng chứng

Đáp ứng thị trường

Giá trị cung ứng sản phẩm chế tạo trong nước trên nhu cầu cùng phạm vi; tách hàng nhập khẩu bán lại

Nội địa hóa

Phương pháp xác định phần giá trị trong nước và mẫu số thống nhất; kiểm tra nguồn gốc đầu vào

Giá trị gia tăng

Giá trị đầu ra trừ chi phí trung gian; phân biệt cấp doanh nghiệp với giá trị nội địa của toàn chuỗi

Tự chủ công nghệ

Quyền sử dụng và sửa thiết kế; làm chủ tính toán, tích hợp, thử nghiệm; hồ sơ nghiệm thu và sở hữu trí tuệ

Phát triển chuỗi

Nhà cung cấp đạt chuẩn, giá trị mua sắm trong nước, cụm linh kiện đồng thiết kế, hợp đồng lặp lại

Hiệu quả hỗ trợ

Doanh thu sản phẩm, số dự án ứng dụng, chi phí vòng đời và kết quả sau hỗ trợ

Mỗi chỉ tiêu cần có kỳ gốc, danh mục sản phẩm, đơn vị báo cáo và quy tắc kiểm chứng. Dữ liệu thống kê phải được kết nối với hồ sơ dự án để theo dõi cả quy mô và năng lực. Doanh nghiệp báo cáo kết quả thiết kế, chế tạo và thương mại hóa; chủ đầu tư xác nhận phạm vi công việc, thông số vận hành và giá trị hợp đồng; cơ quan quản lý tổng hợp, kiểm tra và đánh giá định kỳ. Phân công rõ trách nhiệm giúp phát hiện sớm mục tiêu chậm tiến độ và xác định điều chỉnh cần thiết về hỗ trợ công nghệ, thị trường hoặc nguồn lực.

9. Kết luận

Giai đoạn 2018-2025 ghi nhận giá trị sản xuất cơ khí tăng gần hai lần và xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng hơn bốn lần theo chuỗi số liệu giai đoạn 2018-2025. Tuy nhiên, khoảng 68,4% phần tăng giá trị sản xuất và 96,8% mức cải thiện cán cân thương mại của nhóm hàng được xem xét gắn với khu vực FDI. Kết quả tổng hợp cần được đánh giá cùng khả năng nâng vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng.

Các trường hợp cầu trục 1.200 tấn, các hệ thống BOP nhà máy nhiệt điện đốt than công xuất 600 MW/1 tổ máy và máy biến áp 500 kV cho thấy nền tảng làm chủ sản phẩm phức tạp đã hình thành. Điều kiện để mở rộng thành năng lực công nghiệp bền vững là lựa chọn đúng phạm vi công nghệ, có dự án tiếp nhận, kiểm chứng vận hành và đơn hàng nối tiếp. Chính sách giai đoạn 2026-2045 cần gắn phát triển thị trường với quyền thiết kế, năng lực tích hợp, mạng lưới nhà cung cấp và nguồn lực thử nghiệm. Hiệu quả thực hiện phải được đánh giá bằng sản phẩm vận hành, giá trị tạo ra trong nước và khả năng cung cấp độc lập trong phạm vi công nghệ đã cam kết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bộ Công Thương. (2023). Làm chủ nhiều công nghệ hiện đại của nhà máy nhiệt điện đốt than. https://moit.gov.vn/khoa-hoc-va-cong-nghe/lam-chu-nhieu-cong-nghe-hien-dai-cua-nha-may-nhiet-dien-dot-than.html

Cục Thống kê, Bộ Tài chính. (2026). Số liệu giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành kinh tế và thành phần kinh tế giai đoạn 2018-2025 [Dữ liệu thống kê tổng hợp].

Thủ tướng Chính phủ. (2018). Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.

Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh. (2024). Lễ xuất xưởng và gắn biển công trình Thiết kế chế tạo máy biến áp 500 kV-3×300 MVA. https://eemc.com.vn/14346.html

Vụ Thị trường Ngoài nước, Bộ Công Thương. (tháng 5/2026). Tổng hợp tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 2021-2025 và số liệu so sánh; dữ liệu do cơ quan hải quan cung cấp.

Development outcomes of Vietnam’s mechanical engineering industry during 2018 - 2025 and policy recommendations through 2045

Abstract:

This study assesses the development outcomes of Vietnam’s mechanical engineering industry during the 2018–2025 period in the implementation of the industry development strategy under Decision No. 319/QD-TTg. The study employs descriptive statistical analysis, data consistency checks, comparison against strategic targets, and technology case analysis. The findings suggest that future policy should shift its focus toward strengthening design capabilities, system integration, and supplier networks, while linking support measures to commercial projects, technological outcomes, and verifiable monitoring mechanisms.

Keywords: Vietnam’s mechanical engineering industry, Decision No. 319/QD-TTg, technological autonomy, system integration, supporting industries