Gia tăng thu nhập ngoài lãi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)
Bài báo Gia tăng thu nhập ngoài lãi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) do Nguyễn Văn Khoa (Ngân hàng TMCP Nam Á) thực hiện.
- 1. Đặt vấn đề
- 2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
- 3. Phương pháp nghiên cứu
- 4. Kết quả nghiên cứu
- 4.1. Vị thế của Techcombank so với các đối thủ cạnh tranh cùng quy mô
- 4.2. Thực trạng thu nhập ngoài lãi của Techcombank
- 4.3. Cơ cấu thu nhập ngoài lãi của Techcombank
- 4.4. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ
- 4.5. Thu nhập từ hoạt động đầu tư
- 4.6. Thu nhập từ các hoạt động khác
- 4.7. Những kết quả đạt được
- 4.8. Các tồn tại hạn chế
- 5. Kết luận và các kiến nghị
Tóm tắt:
Bài viết nhằm nghiên cứu về nâng cao thu nhập ngoài lãi (TNNL) tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) từ 2021 - 2025 nhằm đa dạng hóa nguồn thu theo chiến lược của Chính phủ. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định tính, thống kê mô tả và so sánh trên dữ liệu thứ cấp của các ngân hàng thương mại (NHTM). Kết quả nghiên cứu cho thấy TNNL của Techcombank đóng góp 24%-31% tổng thu nhập, vượt mức trung bình ngành nhờ thu phí dịch vụ, đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh ngoại hối và lợi thế chuyển đổi số. Tuy nhiên, điểm hạn chế là sự biến động của mảng đầu tư chứng khoán, danh mục đầu tư thiên về trái phiếu doanh nghiệp, tiềm ẩn nhiều rủi ro; bảo lãnh và ủy thác đóng góp còn khiêm tốn so với tiềm lực tài chính của ngân hàng. Từ đó, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị nhằm gia tăng TNNL tại Techcombank.
Từ khóa: thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa, Techcombank.
1. Đặt vấn đề
Ngày 08/8/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 với định hướng nâng cao tỷ trọng TNNL đạt 16-17% doanh thu các NHTM nhằm đẩy mạnh đa dạng hóa dịch vụ, nâng cao dịch vụ ngân hàng truyền thống và hiện đại, giảm lệ thuộc vào tín dụng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, các NHTM Việt Nam đã đa dạng hóa TNNL như cung cấp dịch vụ tài chính, kinh doanh ngoại hối, đầu tư chứng khoán, góp vốn, mua cổ phần,… Tuy nhiên, việc tăng trưởng nhanh, thiếu kiểm soát các nguồn TNNL có thể mang lại rủi ro biến động cao. Techcombank với định hướng trở thành ngân hàng hiện đại, phát triển các dịch vụ phi tín dụng, tuy TNNL khá mạnh nhưng cơ cấu chưa đồng đều và tương xứng với tiềm năng, đặt ra yêu cầu gia tăng TNNL và phát triển bền vững. Nghiên cứu “Giải pháp gia tăng thu nhập ngoài lãi tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam” nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất các kiến nghị nhằm tối ưu hóa cơ cấu thu nhập tại ngân hàng.
2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
2.1. Cơ sở lý thuyết
Rogers & Sinkey (1999) cho rằng, TNNL bao gồm hoạt động ủy thác, ngoại hối, giao dịch tài khoản, cùng các nguồn thu nhập từ bất động sản, chuyển nhượng cơ sở vật chất, sự tăng trưởng của các hoạt động này phản ánh chiến lược đa dạng hóa của NHTM. Tại Việt Nam, Nghị định số 135/2025/NĐ-CP quy định chế độ báo cáo tài chính cho TCTD với các khoản thu nhập gồm lãi và các khoản tương tự, thu từ dịch vụ, thu từ ngoại hối và vàng, thu từ chứng khoán, thu từ hợp vốn, cổ phần và các hoạt động khác như dự phòng rủi ro, mua bán nợ, thanh lý tài sản. Nghiên cứu này tập trung phân tích TNNL theo 3 nhóm: (i) Thu nhập từ hoạt động dịch vụ; (ii) Thu nhập từ hoạt động đầu tư; (iii) Thu nhập từ hoạt động khác.
2.2. Tổng quan nghiên cứu những yếu tố tác động đến thu nhập ngoài lãi
Đoàn Việt Hùng (2020) phân tích dữ liệu 27 NHTM cổ phần Việt Nam (2010-2017) bằng nhiều mô hình và cho thấy 11 yếu tố vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới TNNL, nổi bật là tỷ lệ tiền gửi, thu nhập lãi cận biên, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, lợi nhuận, công nghệ, lạm phát, lãi suất, mức độ cạnh tranh và mức độ đa dạng hóa thu nhập. Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2016) dùng dữ liệu 33 ngân hàng (2006-2013) với phương pháp hồi quy Pooled OLS, REM, FEM, kết quả cho thấy các biến có tác động cùng chiều tới TNNL gồm tăng trưởng tài sản và vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; ngược lại TNNL giảm khi cho vay trên tổng tài sản lớn, thu nhập lãi trên tổng tài sản và tăng trưởng kinh tế. Gomez, R., & Patel, S. (2019) với 340 NHTM châu Âu (2008-2018) nhấn mạnh đầu tư mạnh vào công nghệ và tự động hóa làm giảm chi phí và tăng TNNL nhờ mở rộng dịch vụ phi tín dụng; Zhang & Wu (2020) trên 400 NHTM toàn cầu (2010-2019) cũng cho thấy tài chính bền vững và trách nhiệm xã hội thúc đẩy TNNL do tăng niềm tin và sự ủng hộ từ cộng đồng, cổ đông và khách hàng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện thu thập dữ liệu thứ cấp từ nguồn báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của Techcombank và các NHTM khác trong giai đoạn 05 năm, 2021-2025. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, đối sánh... các số liệu liên quan nhằm đưa ra các kết luận, đúc kết ứng dụng thực tiễn.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Vị thế của Techcombank so với các đối thủ cạnh tranh cùng quy mô
Nghiên cứu lựa chọn 10 ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh cùng nhóm quy mô tổng tài sản năm 2025 với Techcombank làm cơ sở phân tích (Bảng 1).
Bảng 1. Vị thế Techcombank trong nhóm cùng quy mô hoạt động năm 2025
|
Stt |
Mã chứng khoán |
Tổng tài sản |
Vốn điều lệ |
Doanh thu |
Lợi nhuận sau thuế |
|
1 |
MBB |
1.615.763.927 |
80.549.999 |
67.693.015 |
27.382.978 |
|
2 |
VPB |
1.260.149.596 |
79.339.236 |
74.653.817 |
24.354.596 |
|
3 |
TCB |
1.192.344.137 |
70.862.404 |
53.391.125 |
25.954.472 |
|
4 |
ACB |
1.025.850.127 |
51.366.566 |
33.797.883 |
15.624.699 |
|
5 |
HDB |
931.103.945 |
50.052.763 |
42.695.872 |
17.073.622 |
|
6 |
STB |
917.119.803 |
18.852.157 |
32.056.679 |
5.939.111 |
|
7 |
SHB |
892.008.709 |
45.942.000 |
29.017.487 |
11.960.295 |
|
8 |
LPB |
605.584.514 |
29.872.821 |
21.881.293 |
11.422.379 |
|
9 |
VIB |
556.098.441 |
34.040.057 |
20.006.641 |
7.285.430 |
|
10 |
TPB |
505.901.570 |
27.740.469 |
18.994.760 |
7.402.001 |
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Tổng TNNL toàn ngành có sự gia tăng liên tục từ mức 110.513 tỷ đồng (2021) lên mức 163.907 tỷ đồng (2025), tương đương mức tăng trưởng 48%. Chủ lực vẫn là nguồn thu từ dịch vụ với mức tăng từ 53.651 tỷ đồng (2021) lên 68.796 tỷ đồng (2025), tương ứng tăng 28% từ ngân hàng bán lẻ, thanh toán điện tử, bancassurance. Thu nhập hoạt động đầu tư có sự biến động qua các năm, đạt 30.854 tỷ đồng (2021), giảm xuống 22.554 tỷ đồng (2022) và tăng trở lại mức 40.825 tỷ đồng (2024). Sự biến động này phản ánh tính nhạy cảm của mảng đầu tư đối với những thay đổi của thị trường tài chính trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Thu nhập khác ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể, từ 26.008 tỷ đồng (2021) lên 62.306 tỷ đồng (2025). Nguồn thu này chủ yếu đến từ việc các NHTM thu hồi nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro, các thu nhập bất thường chuyển nhượng tài sản cố định dài hạn,…
Hình 1: Tình hình thu nhập ngoài lãi ngành ngân hàng giai đoạn 2021 - 2025
![]()
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Hình 2: Thu nhập ngoài lãi của Techcombank so với nhóm ngân hàng cùng quy mô
![]()
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Số liệu từ Bảng 1, Bảng 2 cho thấy, năm 2025, tổng TNNL của Techcombank đạt giá trị 15.197 tỷ đồng, xếp thứ 3/10 trong nhóm các NHTM cùng quy mô với một số lợi thế cạnh tranh như sau: Thứ nhất, thương hiệu mạnh và uy tín cao. Techcombank là ngân hàng có hơn 30 năm hoạt động, được các tổ chức uy tín trong nước và quốc tế trao các giải thưởng. Thứ hai, mạng lưới hoạt động rộng khắp với 299 chi nhánh/phòng giao dịch, hệ thống máy ATM/CDM được trang bị tại nhiều điểm, mạng lưới ngân hàng đại lý trên toàn thế giới, các cửa hàng bán lẻ Winmart+ tại Việt Nam. Thứ ba, chiến lược Bigta và công nghệ dữ liệu khách hàng với hơn 15,4 triệu khách hàng, trong đó 0,6 triệu khách hàng là nhà bán lẻ. Hệ thống “Bộ não dữ liệu” của ngân hàng có khả năng phân tích gần 8.000 đặc tính cá nhân nhằm nhận diện chính xác từng khách hàng và xử lý khoảng 8 tỷ điểm dữ liệu hàng ngày.
4.2. Thực trạng thu nhập ngoài lãi của Techcombank
Hình 3: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động của Techcombank
![]()
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ TNNL trong tổng thu nhập của Techcombank có sự biến động rõ rệt, luôn duy trì ở mức cao so với trung bình ngành và nhóm cùng quy mô. Năm 2021, TNNL của Techcombank đạt gần 28%, vượt trội so với mức 24,5% của ngành và 22% của nhóm cùng quy mô. Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hướng giảm từ 25,9% (2022) xuống còn 24,4% (2024). Năm 2025, Techcombank ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ đạt gần 30%, lớn hơn mức trung bình ngành (22,6%) và nhóm cùng quy mô (20%). Đây là giai đoạn ngân hàng khai thác hiệu quả lợi thế về dịch vụ ngân hàng số, thanh toán và các hoạt động đầu tư tài chính, qua đó khẳng định vị thế dẫn đầu trong việc đa dạng hóa nguồn thu nhập.
4.3. Cơ cấu thu nhập ngoài lãi của Techcombank
Nhìn chung, cơ cấu TNNL của Techcombank chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là thu nhập từ hoạt động dịch vụ với hơn 61% (2021) và tỷ lệ này tăng lên đáng kể vào các năm sau, đạt giá trị cao nhất là 80,3% (2022) và 70% (2024) tổng TNNL. (Hình 4)
Hình 4: Cơ cấu thu nhập ngoài lãi của Techcombank 2021 - 2025
![]()
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Thu nhập từ hoạt động đầu tư của Techcombank khá biến động với giá trị đạt 2.188 tỷ đồng (2021), chiếm 21% và -91 tỷ đồng (2022), chủ yếu đến từ khoản lỗ hơn 275 tỷ đồng từ các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ. Tỷ lệ này tăng lên mức 10% (2022) và 26% (2023 - 2024). Thu nhập hoạt động góp vốn, mua cổ phần và các hoạt động khác có xu hướng giảm đi, đạt mức 17,4% tỷ đồng (2021), ổn định ở mức 19%-20% (2022 - 2023) và đạt giá trị 407 tỷ đồng, tương đương 4% (2024).
4.4. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ
Bảng 2. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Techcombank giai đoạn 2021 - 2025
|
Thu nhập |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|
Dịch vụ thanh toán |
2.207 |
4.539 |
6.718 |
5.559 |
3.666 |
|
Dịch vụ ngân quỹ, bảo lãnh |
(68) |
(74) |
298 |
(63) |
228 |
|
Dịch vụ chứng khoán |
694 |
1.197 |
(184) |
846 |
1.265 |
|
Hoạt động bảo hiểm |
1.558 |
1.751 |
667 |
606 |
1.242 |
|
Dịch vụ ủy thác và đại lý |
662 |
1.019 |
583 |
744 |
1.128 |
|
Các dịch vụ khác |
1.329 |
97 |
633 |
350 |
1.242 |
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Thu nhập từ dịch vụ thanh toán chủ yếu đến từ việc triển khai chương trình “Zero Fee - Miễn phí giao dịch chuyển khoản điện tử” và các sản phẩm như Sinh lời tự động, Chương trình khách hàng thân thiết đã góp phần làm gia tăng số dư CASA đạt 27% (2024) và đạt 40,9% (2025). Ngoài ra, Techcombank và hệ sinh thái WinLife, được triển khai tại hơn 3.000 cửa hàng Masan trên toàn quốc đã mang lại thêm khoảng 1 triệu khách hàng mới, giúp mở rộng tệp khách hàng và góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ thanh toán tiền mặt sang các giao dịch số an toàn và tiện lợi.
Thu nhập từ dịch vụ chứng khoán chủ yếu đến từ hoạt động của CTCP Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) bao gồm môi giới, bảo lãnh phát hành trái phiếu, lưu ký chứng khoán, tư vấn tài chính,… Ngoài ra, Công ty Cổ phần Quản lý quỹ Kỹ Thương cũng đóng góp vào TNNL của Techcombank qua các quỹ đầu tư chứng khoán, bất động sản... với lợi nhuận đạt 694 tỷ đồng (2021), 1.197 tỷ đồng (2022) và 1.265 (2025). Đây là giai đoạn xảy ra cuộc khủng hoảng đại dịch Covid-19 và sự tăng trưởng bùng nổ của thị trường chứng khoán. Năm 2023, thu nhập từ môi giới ghi nhận mức lỗ 184 tỷ đồng và hồi phục mạnh mẽ vào năm 2024 với lợi nhuận 846 tỷ đồng. Công ty Cổ phần Bảo hiểm nhân thọ Kỹ Thương (TCLife) thành lập ngày 16/07/2025 với 2 cổ đông lớn là Techcombank (tỷ lệ 80% vốn) và Tập đoàn Vingroup (tỷ lệ 20% vốn) được kỳ vọng sẽ đem đến lợi nhuận tích cực cho Techcombank trong giai đoạn tới.
4.5. Thu nhập từ hoạt động đầu tư

Số liệu từ Bảng 3 cho thấy, thu nhập từ ngoại hối có sự biến động qua các năm khi giá trị đạt 231 tỷ đồng (2021), lỗ 275 tỷ đồng (2022), hồi phục mạnh mẽ 593 tỷ đồng (2024) và 1.642 tỷ đồng (2025). Techcombank với cơ chế là đơn vị tạo lập thị trường ngoại hối thông qua hệ thống FX Matching, nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng được tự động khớp với giao dịch của các nhà tạo lập trên cơ sở mức giá cạnh tranh và thanh khoản cao. Bên cạnh đó, Techcombank còn đa dạng hóa sản phẩm ngoại hối không chỉ tập trung vào USD, EUR, JPY mà còn mở rộng sang các đồng tiền tiềm năng như CNY, KRW, SGD.
Bảng 4. Giá trị chứng khoán đầu tư của của Techcombank giai đoạn 2021 - 2025
|
Chứng khoán đầu tư |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|
Trái phiếu Chính phủ |
14.438 |
37.869 |
24.411 |
45.902 |
39.241 |
|
Trái phiếu của TCTD |
20.389 |
24.063 |
37.303 |
31.766 |
47.975 |
|
Trái phiếu doanh nghiệp |
62.609 |
41.015 |
42.509 |
45.903 |
56.486 |
|
Cổ phiếu của TCTD |
0 |
0 |
498 |
1.126 |
0 |
|
Khác |
150 |
705 |
273 |
23.927 |
1.824 |
|
Tổng cộng |
97.586 |
103.652 |
104.994 |
148.624 |
145.526 |
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Số liệu từ Bảng 4 cho thấy, mặc dù có xu hướng đẩy mạnh vào các loại chứng khoán an toàn như trái phiếu Chính phủ và trái phiếu do TCTD phát hành, tỷ trọng danh mục đầu tư vẫn thiên về các loại chứng khoán khá rủi ro như trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu Chính phủ có giá trị hơn 14.438 tỷ đồng (2021), tăng mạnh lên mức 45.902 tỷ đồng (2024). Trái phiếu do TCTD phát hành đạt giá trị 20.389 tỷ đồng (2021), tăng lên mức 47.975 tỷ đồng (2025). Trong khi đó, giá trị đầu tư trái phiếu doanh nghiệp có xu hướng không thay đổi khi đạt mức xấp 45.000 tỷ đồng trong suốt giai đoạn.
4.6. Thu nhập từ các hoạt động khác
Hình 5: Thu nhập từ hoạt động khác của Techcombank 2021 - 2025
![]()
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
Hình 5 cho thấy, thu nhập từ các hoạt động khác của Techcombank biến động không đồng đều với giá trị tăng đều từ mức 1.807 tỷ đồng (2021) lên mức 2.469 tỷ đồng (2023), giảm mạnh còn 407 tỷ đồng (2024), và tăng trưởng bất thường lên mức 1.924 tỷ đồng (2025). Các khoản thu nhập mang tính chất bất thường từ các hoạt động thu hồi nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro, thu nhập từ các khoản bán tài sản cố định dài hạn, thu từ các công cụ tài chính phái sinh…
4.7. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, Techcombank giữ vị thế dẫn đầu về thu nhập phí trong nhóm ngân hàng tư nhân nhờ chiến lược Zero Fee, đẩy mạnh thanh toán số, mở rộng hệ sinh thái WinLife với Masan - Vingroup. Thứ hai, việc thành lập TCLife, với sự góp vốn của Vingroup (20%) đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong chiến lược phát triển TNNL của Techcombank. Thứ ba, thông qua công ty con TCBS, Techcombank đã khẳng định vị thế số 1 trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp và môi giới đầu tư. Thứ tư, Techcombank duy trì vị thế là “Nhà tạo lập thị trường ngoại hối tốt nhất Việt Nam” nhờ việc triển khai các sản phẩm phái sinh ngoại hối. Thứ năm, dù có biến động năm 2022 lỗ từ chứng khoán kinh doanh, nhưng mảng đầu tư chứng khoán vẫn là trụ cột chính trong thu nhập từ hoạt động đầu tư của Techcombank.
4.8. Các tồn tại hạn chế
Thứ nhất, thu nhập từ hoạt động đầu tư của Techcombank vẫn còn nhiều biến động bất thường. Danh mục đầu tư thiên về trái phiếu doanh nghiệp, nhiều rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, chưa khai thác tiềm năng các sản phẩm chứng khoán phái sinh, quản lý tài sản số và dịch vụ đầu tư trực tuyến. Thứ hai, thu nhập mảng bảo hiểm tuy mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể, nguồn thu này được đánh giá là còn khá khiêm tốn và vẫn thấp hơn mức trung bình nhóm các NHTM cùng quy mô hoạt động.
5. Kết luận và các kiến nghị
5.1. Kết luận
Về ưu điểm, Techcombank sở hữu tiềm lực tài chính vững chắc, tốc độ tăng trưởng tài sản bình quân và tỷ lệ CASA dẫn đầu ngành, đổi mới công nghệ, khai thác dữ liệu lớn, chất lượng nguồn nhân lực tốt và hệ sinh thái liên kết Techcombank - Masan - Vingroup. Tỷ lệ TNNL trên tổng thu nhập hoạt động cao hơn bình quân ngành. Về hạn chế, TNNL phụ thuộc nhiều vào hoạt động rủi ro cao như chứng khoán; danh mục đầu tư thiên về trái phiếu doanh nghiệp, tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Các dịch vụ khác như ngân quỹ, ủy thác, đại lý… đóng góp chưa tương xứng với tiềm lực tài chính.
5.2. Các kiến nghị nhằm gia tăng thu nhập ngoài lãi
5.2.1. Kiến nghị đối với Techcombank
- Hoàn thiện các hoạt động cung cấp dịch vụ phi tín dụng hiện có: Dịch vụ thanh toán: Tiếp tục tăng cường nguồn nhân lực cho hoạt động của trung tâm thanh toán, rà soát lại danh mục khách hàng hiện hữu, đa dạng hóa hệ khách hàng lớn - khách hàng nhỏ lẻ. Techcombank có thể triển khai mô hình phân phối bảo hiểm đa kênh nhờ mạng lưới bán lẻ của Masan (Winmart+) cùng các dịch vụ giáo dục, y tế, bất động sản từ Vingroup. Hoạt động bảo hiểm: TCLife cần phát triển danh mục sản phẩm bảo hiểm đa dạng, cá nhân hóa, thiết kế các gói bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe, giáo dục, hưu trí phù hợp với từng phân khúc khách hàng. Dịch vụ kinh doanh ngoại hối: Techcombank cần đa dạng hóa danh mục ngoại tệ giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mở rộng các đồng tiền của thị trường tiềm năng như CNY, KRW, SGD… và các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh như hợp đồng kỳ hạn forward, option, swap… Hoạt động đầu tư chứng khoán, góp vốn mua cổ phần: Xem xét cơ cấu danh mục đầu tư, chiến lược đầu tư rõ ràng, giảm phụ thuộc vào trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng sang quỹ ETF, chứng quyền, phái sinh, quỹ mở, kết hợp tăng tỷ trọng trái phiếu Chính phủ nhằm phân tán rủi ro. Đồng thời, TCBS có thể đẩy mạnh dịch vụ quản lý tài khoản cho phân khúc khách hàng thu nhập cao, tăng cường hoạt động tư vấn M&A, phát hành chứng khoán xanh, trái phiếu bền vững nhằm khai thác xu hướng ESG.
Tăng cường chuyển đổi số và đầu tư công nghệ: Techcombank cần chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ vững chắc, ứng dụng chiến lược Big Data trong đa dạng hóa thu nhập. Techcombank cần không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm phân tích dữ liệu, giải pháp lưu trữ, đầu tư vào công nghệ đám mây. Bên cạnh đó, Techcombank chú trọng đến việc cập nhật công nghệ mới, cải tiến hệ thống và áp dụng công nghệ mới như AI và máy học vào phân tích dữ liệu sẽ giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình. Techcombank cũng nên hợp tác với các nhà cung cấp công nghệ để cập nhật các giải pháp tiên tiến và bảo đảm hệ thống hoạt động ổn định, hiệu quả.
Tăng cường trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng: Hiện đại hóa quy trình giao dịch bán lẻ, chuyên môn hóa đội ngũ nhân viên thông qua hệ thống chỉ tiêu KPI và các thước đo hiệu quả công việc, góp phần từng bước loại bỏ phong cách làm việc truyền thống kém hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện phương thức phân khúc khách hàng theo hướng khoa học và toàn diện. Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá khách hàng tiềm năng giúp Techcombank đưa ra chiến lược cung cấp sản phẩm phù hợp với từng nhóm khách hàng. Techcombank cần phát triển các gói dịch vụ dành riêng cho khách hàng VIP, cũng như thiết kế các sản phẩm tài chính phù hợp cho các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế, giáo dục, hành chính công,…
5.1.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước, NHNNVN cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý khuyến khích tăng cường phát triển các dịch vụ phi tín dụng, không ngừng hoàn thiện, bổ sung cơ chế toán điện tử đối với hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng và trong toàn bộ nền kinh tế. Thúc đẩy mạnh mẽ thị trường mở và thị trường tiền tệ liên ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả nhằm tạo điều kiện cho các NHTM có thêm kênh đầu tư đa dạng, kênh luân chuyển vốn trên thị trường cấp 2 giao dịch thông suốt như nghiệp vụ vay qua đêm, phát hành trái phiếu giữa các TCTD...
5.1.3. Kiến nghị đối với Chính phủ và các cơ quan, ban ngành
Thứ nhất, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của NHTM, bổ sung mở rộng các loại hình dịch vụ mà TCTD được cung cấp cho khách hàng phù hợp với thông lệ quốc tế, hủy bỏ các văn bản không còn phù hợp với thực tiễn, tránh tình trạng chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Tăng cường chỉ đạo các bộ, ngành cung ứng các dịch vụ liên kết với ngân hàng như bưu chính viễn thông, điện lực, giao thông vận tải phối hợp thanh toán không dùng tiền mặt thông qua ngân hàng. Cải thiện môi trường kinh tế - xã hội và phát triển cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách điều tiết nhằm tăng trưởng kinh tế.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ (2018), Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018 phê duyệt chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.
Chính phủ (2025), Nghị định số 135/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn Nhà nước, Hà Nội.
Đoàn Việt Hùng (2020), Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Diễm Hiền, Nguyễn Hồng Hạt (2016), “Thu nhập ngoài lãi và hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, 127, tr. 57-63.
Atmawidjaya, H.A., & Nuryakin, C. (2023), “Non-interest income and banking intermediation in Asean countries”, Jurnal Ekonomi, 12 (04/2023), pp. 1087-1095.
Gomez, R., & Patel, S. (2019), “The Role of Information Technology and Automation in Enhancing Non-Interest Income of European Banks: A Decade Analysis, 2008- 2018”, Journal of Information Technology in Banking, 7 (2), pp. 112-128.
Rogers, K., & Sinkey Jr, J. F. (1999), “An analysis of nontraditional activities at US commercial banks”, Review of Financial Economics, 8 (1), pp. 25-39.
Zhang, L., & Wu, M. (2020), “Sustainable Financial Management and Corporate Social Responsibility: Effects on Non-Interest Income of Global Commercial Banks, 2010-2019”, Global Finance Journal, 43, pp. 1-15.
Increasing non-interest income at Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank
Nguyen Van Khoa
Nam A Commercial Joint Stock Bank
Email: [email protected]Abstract:
This study studies the enhancement of non-interest income at Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank (Techcombank) during the 2021–2025 period in order to diversify income sources in line with the Government’s strategy. The research methods used include qualitative analysis, descriptive statistics, and comparison based on secondary data from commercial banks. The study findings show that Techcombank’s non-interest income contributes 24%–31% of total income, exceeding the industry average thanks to service fees, securities investment, insurance, foreign exchange business, and advantages from digital transformation. However, limitations remain, including volatility in securities investment, an investment portfolio inclined toward corporate bonds with potential risks, and the still modest contribution of guarantee and trust activities compared with the bank’s financial capacity. Based on these findings, the study proposes recommendations to increase non-interest income at Techcombank.Keywords: non-interest income, diversification, Techcombank.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 18 năm 2026]